Showing posts with label Vi sinh vật gây bệnh. Show all posts

Ngộ độc thực phẩm do Salmonella

Salmonella là một giống vi khuẩn hình que, trực khuẩn gram âm, kị khí tùy nghi không tạo bào tử, di động bằng tiên mao, sinh sống trong đường ruột, có đường kính khoảng 0,7 µm đến 1,5 µm, dài từ 2 µm đến 5 µm và có vành lông rung hình roi. Hầu hết các loài Salmonella có thể sinh hydro sulfua[1]. Salmonella không lên men lactose (trừ Salmonella arizona) và sucrose nhưng lên men được dulcitol, mannitol và glucose. Chúng kém chịu nhiệt nhưng chịu được một số hóa chất: brilliant green, sodium lauryl sulfate, selenite,...

Ngộ độc thực phẩm do salmonella
Vi khuẩn Salmonella

Không chỉ tồn tại trong các lọai thực phẩm bị nhiễm khuẩn (trứng, thịt, rau,hoa quả…), Salmonella còn có thể lây truyền nếu bạn chạm hoặc tiếp xúc trực tiếp với các loài động vật, đặc biệt là gà, vịt và rùa. Salmonella là một loại vi khuẩn - căn nguyên gây ra nhiều loại bệnh do thực phẩm nhiễm độc hay còn gọi là ngộ độc thực phẩm với các triệu chứng điển hình gồm nôn, buồn nôn và tiêu chảy.

Nhiễm khuẩn Salmonella rất phổ biến và đa số không nguy hiểm. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nếu vi khuẩn Salmonella lan từ ruột vào máu và các cơ quan khác, chúng sẽ gây ra rất nhiều biến chứng nguy hiểm. Những người có nguy cơ cao bị Salmonella lây lan vào máu bao gồm:

  1. AIDS: Với những bệnh nhân bị AIDS, hệ miễn dịch bị suy giảm, tạo điều kiện cho Salmonella và các vi khuẩn khác tấn công cơ thể Ung thư: Những bệnh nhân ung thư phải dùng xạ trị - gây suy giảm hệ miễn dịch của cơ thể, từ đó vi khuẩn Salmonella dễ dàng lây lan vào máu
  2. Bệnh thiếu máu hồng cầu liềm
  3. Cấy ghép tạng (tim, phổi, thận…)
  4. Bệnh nhân dùng thuốc chứa Steroid liều cao, trong thời gian dài gây suy giảm hệ miễn dịch
  5. Trẻ đẻ non và những trẻ có vấn đề liên quan đến khả năng đề kháng.
  6. Những người bị bệnh lí tim mạch hoặc phẫu thuật thay thế khớp gối là nhóm đối tượng có nguy cơ bị vi khuẩn Salmonella lây lan sang các mạch máu hoặc khớp gối nhân tạo. Nhóm đối tượng này cũng có sức đề kháng kém hơn so với bình thường nên khả năng nhiễm Salmonella cũng cao hơn.

Triệu chứng nhiễm Salmonella

Những triệu chứng thường gặp khi nhiễm Salonella gồm:

  1. Buồn nôn, nôn
  2. Sốt kéo dài (2-3 ngày)
  3. Tiêu chảy: phân nhầy nước / lẫn máu, kéo dài 4 đến 10 ngày.
  4. Đau bụng

Khi nào nên đến khám bác sĩ hoặc điều dưỡng?

Bạn nên đến gặp các bác sĩ hoặc điều dưỡng nếu bạn có các triệu chứng dưới đây:

  1. Đau bụng dữ dội
  2. Không thể ăn hoặc uống
  3. Nôn/đi ngoài ra máu
  4. Sốt cao > 380C

Các xét nghiệm chẩn đoán Salmonella là gì?

Để chẩn đoán xác định Salmonella, các bác sĩ hoặc điều dưỡng sẽ cho bạn cấy phân để tìm vi khuẩn. Tuy nhiên, biện pháp xét nghiệm này sẽ mất 2-3 ngày mới có kết quả. Trong một số trường hợp nhiễm khuẩn Salonella thể nặng, các bác sĩ hoặc điều dưỡng sẽ “bắt tay”điều trị ngay mà chưa cần kết quả xét nghiệm

Điều trị nhiễm khuẩn Salmonella như thế nào?

Hầu hết các trường hợp nhiễm Salmonella đều có thể tự khỏi mà không cần điều trị. Tuy nhiên, với những bệnh nhân nhiễm Salmonella nặng và có nguy cơ gây ra các biến chứng nguy hiểm, các bác sĩ sẽ cho bệnh nhân điều trị bằng kháng sinh theo đường tiêm.

Một số trường hợp có khả năng cao nhiễm vi khuẩn Salmonella thì sẽ được chỉ định dùng kháng sinh đường uống. Kháng sinh giúp điều trị nhiễm trùng và ngăn chặn khả năng Salmonella quay lại.

Tôi có thể tự làm gì để cảm thấy dễ chịu hơn?

Để cảm thấy thoải mãi, dễ chịu hơn, bạn có thể:

  1. Uống nhiều nước: Biện pháp này giúp bạn phòng tránh nguy cơ mất nước do tiêu chảy, nôn mửa kéo dài
  2. Chia nhỏ bữa ăn, hạn chế đồ ăn nhiều dầu mỡ
  3. Nghỉ ngơi, thư giãn

Phòng tránh Salmonella như thế nào?

Bạn có thể phòng tránh nhiễm khuẩn Salmonella bằng cách:

  1. -Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã cho trẻ, sau hắt hơi, ho hoặc sau khi chạm vào vật nuôi
  2. -Nghỉ ngơi, tránh làm việc quá sức

An toàn thực phẩm

Dưới đây là một số lời khuyên giúp bạn giữ thực phẩm luôn vệ sinh, an toàn:

  1. Không ăn / uống sữa hoặc những sản phẩm từ sữa chưa thanh trùng
  2. Rửa sạch hoa quả, rau củ trước khi ăn
  3. Gĩu thực phẩm ở nhiệt độ 4.40C hoặc -180C
  4. Chỉ ăn thức ăn đã nấu chín
  5. Rửa sạch các dụng cụ sau khi thái các thực phẩm sống

Nếu tôi mang thai mà bị nhiễm Salmonella, tôi nên làm gì?

Nếu bạn nhiễm Salmonella trong quá trình mang thai, hãy đi khám bác sĩ, điều dưỡng hoặc nữ hộ sinh - họ sẽ đưa ra những lời khuyên giúp bạn an toàn nhất. Đa phần, những phụ nữ đang mang thai mà nhiễm Salmonella sẽ không cần điều trị, tuy nhiên, nếu nhiễm Salmonella thể nặng và hoặc đang gần đến ngày sinh, có thể họ sẽ phải ở lại viện để theo dõi.

Nguồn:

  1. vi.wikipedia.org/wiki/Salmonella
  2. easycare.vn

Ngộ độc E.coli

Ngộ độc thực phẩm thường xảy ra do nguyên liệu dùng chế biến hay thực phẩm bị nhiễm vi khuẩn và độc tố của vi khuẩn. Một trong những loại ngộc độc thực phẩm gây ra bởi vi sinh vật thường gặp là ngộ độc thực phẩm do vi khuẩn E.coli.

Ngộ độc E.coli

1. Đặc điểm hình dạng, nuôi cấy và tính chất sinh hóa

Vi khuẩn E.coli thuộc nhóm vi trùng đường ruột Enterobacteriaceae, có nhiều trong tự nhiên, trong đường ruột của người và gia súc. Trong đường ruột, chúng hiện diện nhiều ở đại tràng nên còn gọi là vi khuẩn đại tràng. Vi khuẩn E.coli nhiễm vào đất, nước… từ phân của động vật. Chúng trở nên gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chúng.

- Hình dạng: Vi khuẩn thuộc loại trực khuẩn gram âm, di động bằng tiêm mao quanh tế bào, không tạo bào tử, loại có độc lực thì có capsul, loại không có độc lực không có capsul. Kích th ước trung bình (0,5µ x 1-3µ) hai đầu tròn. Một số dòng có lông bám (pili).

- Đặc điểm nuôi cấy và sinh hóa: Là loại hiếu khí hay hiếu khí tùy nghi. Nhiệt độ thích hợp 37C nhưng có thể mọc trên 40C, pH 7,4.

+ Trên môi trường thạch dinh dưỡng NA tạo khóm tròn ướt (dạng S) màu trắng đục. Để lâu khóm trở nên khô nhăn (dạng R). Kích thước khóm 2-3mm.

+ Trên thạch máu: Có chủng dung huyết β, có chủng không dung huyết α

- Trên môi trường chẩn đoán chuyên biệt EMB (Eozin Methyl Blue) tạo khóm tím ánh kim.

- Trên môi trường Rapid’ E.coli tạo khuẩn lạc màu tím.

- Trên môi trường Macconkey, Endo, SS tạo khóm hồng đỏ.

- Trên các môi trường đường: Lên men sinh hơi lactose, glucose, galactose. Lên men không đều saccarose và không lên men dextrin, glycogen.

- Các phản ứng sinh hóa: Indol dương tính, Methyl Red (phản ứng MR) dương tính, Voges-Proskauer (phản ứng VP) âm tính và Citrat âm tính, H2S âm tính, hoàn nguyên nitrat thành nitrit, Lysine decarboxylaza dương tính.

2. Đặc điểm kháng nguyên và độc tố

Gồm 4 loại kháng nguyên: O, K, H, F và nội độc tố gây tiêu chảy, ngoại độc tố gây tan huyết và phù thủng.

Độc tố của E.coli: Loại E.coli có giáp mô (kháng nguyên K) gây ngộ độ mạnh hơn loại không giáp mô. Kháng nguyên K có 13 loại KA, KB, KL. Ví dụ công thức kháng nguyên của một E.coli là: O55K5H21F5.

Nội độc tố đường ruột: Gồm 2 loại chịu nhiệt và không chịu nhiệt. Cả hai loại này đều gây tiêu chảy. Loại chịu nhiệt ST (Thermostable): gồm các loại STa, STb. Loại không chịu nhiệt LT (Thermolabiles): gồm các loại LT1, LT2. Những dòng E.coli sản sinh độc tố (ETEC) gồm nhiều type huyết thanh khác nhau nhưng thường gặp nhất là các type O6H16, O8H9, O78H12, O157.

3. Tính chất gây bệnh

Cơ chế gây ngộ độc: khi cơ thể bị nhiễm vi khuẩn với số lượng nhiều kèm theo độc tố của chúng. E.coli gây tiêu chảy thường gặp các nhóm sau:

- Nhóm EPEC (Enteropathogenic E.coli): gồm các type thường gặp O26:B6, O44, O55:B5, O112:B11, O124, O125:B5, O142 là nguyên nhân gây tiêu chảy ở trẻ em dưới 2 tuổi.

- Nhóm ETEC (Enterotoxigenic E.coli): gây bệnh cho trẻ em, người lớn do tiết ra 2 độc tố ruột ST và LT.

+ LT hoạt hóa men adenyl cyclase trong tế bào ruột làm gia tăng yếu tố C.AMP (cyclicadenozin 5’ monophosphat). Yếu tố này sẽ kích thích ion Cl- và bicarbonat tách ra khỏi tế bào đồng thời ức chế Na+ bên trong tế bào. Hậu quả là gây tiêu chảy mất nước.

+ Độc tố ST: hoạt hóa men Guanyl Cyclase làm tăng yếu tố C.GMC (cyclic guanosin 5’ monophosphat) bên trong tế bào dẫn đến kích thích bài tiết muối và nước gây ra tiêu chảy.

Những dòng E.coli có cả 2 loại nội độc tố LT và ST sẽ gây ra tiêu chảy trầm trọng và kéo dài.

- Nhóm EIEC (Enteroinvasine E.coli): những E.coli này bám lên niêm mạc và làm tróc niêm mạc gây loét niêm mạc do đó gây tiêu chảy có đàm lẫn máu (giống Shigella). Các chủng này có thể lên men hay không lên men đường lactose và có phản ứng lysin decarboxylaza âm tính. Thường gặp các type O125, O157, O144…

- Nhóm VETEC (Verocytoxin produccing E.coli): Vừa gây tiêu chảy vừa là nguyên nhân gây viêm đại tràng xuất huyết (hermorrhagic colilic) và làm tổn thương mao mạch gây hiện tượng sưng phù (ederma) rất nguy hiểm đến tính mạng (do biến chứng). Nhóm VETEC bao gồm các type: O26, O11, O113, O145, O157 ; đây là ngoại độc tố vetec gây tiêu chảy. Các biến chứng trên do vi khuẩn tiết ra một trong 2 loại ngoại độc tố VT1 (verocytoxin) và VT2 gây tác động thần kinh.

Chủng E.coli O157:H7 đã gây ra những vụ ngộ độc lớn trên thế giới (theo CDC, Center for Disease Control and prevention của Mỹ): Năm 1982, lần đầu tiên người ta ghi nhận được nguồn bệnh do E.coli O157:H7. Năm 1985, người ta nhận thấy triệu chứng hoại huyết có liên quan đến chủng O157:H7. Năm 1990, bùng nổ trận dịch từ nguồn nước nhiễm chủng E.coli O157:H7. Năm 1996, xảy ra trận dịch khá phức tạp ở Nhật Bản do uống nước táo chưa diệt khuẩn.

Ngộ độc E.coli

4. Triệu chứng trúng độc

Thời kỳ ủ bệnh 2-20 giờ. Người ngộ độc thấy đau bụng dữ dội, đi phân lỏng nhiều lần trong ngày, ít khi nôn mửa. Thân nhiệt có thể hơi sốt. Trường hợp nặng bệnh nhân có thể sốt cao, người mỏi mệt, chân tay co quắp đổ mồ hôi. Thời gian khỏi bệnh vài ngày. Nguyên nhân là do nhiễm E.coli vào cơ thể với số lượng lớn và cơ thể đang suy yếu.

5. Biện pháp phòng ngừa ngộ độc E.coli

E.coli gây tiêu chảy thường theo phân ra ngoài do đó dễ gây thành dịch. Do đó cần phải nấu chín kỹ thức ăn và kiểm tra nghiêm ngặt quy trình chế biến thực phẩm

Nguồn: chicucthuyhcm.org.vn

Vi trùng

Ngưỡng hoạt độ nước(aw) ức chế vi sinh vật gây bệnh phát triển trong thực phẩm

Ngưỡng hoạt độ nước(aw) ức chế vi sinh vật gây bệnh phát triển trong thực phẩm

Ngưỡng hoạt độ nước(aw) ức chế vi sinh vật gây bệnh phát triển trong thực phẩm

Một hướng dẫn kiểm soát mối nguy sinh học trong sản xuất thực phẩm của USDA

Một hướng dẫn kiểm soát mối nguy sinh học trong sản xuất thực phẩm của USDA

Điện thoại di động của bạn dơ như thế nào?

Theo một nghiên cứu năm 2013 của Đại học Standford, chiếc điện thoại thông minh của bạn có thể bẩn hơn cả bồn cầu tại các nhà vệ sinh công cộng. Sự thật này có thể khiến nhiều người cảm thấy hãi hùng khi hàng ngày, họ vẫn thường xuyên đặt nó lên mặt để nghe, gọi.
Điện thoại di động của bạn dơ như thế nào? Theo nghiên cứu này, số lượng vi khuẩn trên một inch vuông của smartphone là 25.107, gấp 18 lần so với một inch vuông của bồn cầu nhà vệ sinh công cộng (1.201), gấp 14 lần bề mặt bếp ga (1.736 con vi khuẩn trên mộtt inch vuông) và gần 12 lần so với đĩa đựng thức ăn của các con thú cưng trong gia đình (2.110 con vi khuẩn trên một inch vuông).

Một nghiên cứu khác còn chỉ ra rằng, 1/6 những chiếc smartphone hiện nay bị dính một loại vật chất có liên quan đến phân.

Trên thực tế, smartphone là một trong những vùng hoạt động phổ biến nhất của các loại vi khuẩn. Đó cũng là nơi chúng dễ dàng tiếp xúc với con người nhất, chỉ đứng sau tay nắm cửa, giỏ hàng tạp hóa và đế giày của bạn.

Tại sao? Sự ấm áp của những chiếc điện thoại thông minh chính là một môi trường hoàn hảo để mầm bệnh sinh trưởng và phát triển, bởi chúng luôn được giữ ấm áp bên trong túi hoặc ví của bạn. Gần như bất cứ nơi nào bạn có mặt, từ trường học, công sở, cho đến nhà tắm, nhà vệ sinh, bạn đều mang theo smartphone, giúp vi khuẩn ở những nơi đó có cơ hội tìm đến chiếc smartphone của bạn.

iPhone hoặc điện thoại Android, đặc biệt là màn hình của chúng, được coi như một thỏi nam châm, thu hút hàng nghìn các loại vi khuẩn mới mỗi khi bạn chạm vào vật gì đó, sau đó chạm vào màn hình máy. Do đó, khi đưa smartphone lên mặt, bạn có thể tạo cơ hội cho hàng triệu smartphone tiếp xúc với mặt mình.

Dưới đây là một số cách đơn giản để bảo vệ chiếc điện thoại của bạn:

1. Lau sạch mỗi ngày: Hãy lau sạch chiếc smartphone của bạn mỗi ngày bằng một loại nước lau rửa không ăn mòn chuyên dụng. Tìm đến các cửa hàng bán đồ điện tử và họ sẽ đưa ra lựa chọn giúp bạn.

2. Chú ý đến bàn phím: Nếu smartphone của bạn có bàn phím vật lý, hãy cố gắng làm sạch nó. Bạn nên bắt đầu làm sạch bằng một miếng gạc bằng cotton, nhúng với rượu pha loãng để vệ sinh. Hãy đảm bảo bạn không chà sát quá mạnh và không để rượu lọt vào bên trong điện thoại.

3. Rửa tay thường xuyên: Đây là một gợi ý có vẻ thừa nhưng bàn tay bẩn thỉu của bạn chính là con đường nhanh nhất đưa vi khuẩn đến với chiếc smartphone. Nhưng nên nhớ, việc bạn rửa tay sẽ là vô dụng nếu không vệ sinh chiếc smartphone của mình thường xuyên trước

Nguồn: zing.vn

Khăn tắm của bạn có sạch không?

Khoảnh khắc bạn sử dụng khăn tắm cũng là lúc vật dụng này trở thành nơi cư trú của vi khuẩn, nấm, da chết, cùng rất nhiều loại vi khuẩn và chất bẩn khác có sẵn trong phòng tắm, bao gồm cả... nước tiểu và phân.
Khăn tắm của bạn có sạch không? Theo Philip Tierno - nhà vi khuẩn và bệnh lý học thuộc khoa Y ĐH New York - thì hầu hết số vi khuẩn này sẽ không gây hại, vì chúng đến từ cơ thể chúng ta. Tuy nhiên, sự thật kinh khủng là chúng sẽ sinh sản với tốc độ chóng mặt. Một số thống kê cho thấy trong điều kiện thích hợp, một con vi khuẩn có thể sinh sôi thành 1 tỉ cá thể chỉ trong vòng 10h đồng hồ.

Trong khi đó, khăn tắm sau khi sử dụng lại chính là nơi ở hội tụ đủ điều kiện giúp mọi loài vi khuẩn phát triển: độ ẩm cao, nhiệt độ ấm, oxy, dinh dưỡng, và cả độ cân bằng pH tự nhiên. Tất cả những điều kiện này đều đến từ cơ thể người.

Các chuyên gia cho biết, dù bạn có tắm thường xuyên, sau đó cả ngày không làm gì, cơ thể bạn vẫn luôn "bẩn". Đó là do cơ thể chúng ta thay thế tới hàng ngàn tế bào da mỗi ngày, tạo thành da chết hay còn gọi là ghét bẩn. Đây chính là nguồn dinh dưỡng tuyệt vời cho sự phát triển của vi khuẩn.

Vậy tối đa bạn có thể sử dụng khăn tắm bao nhiêu lần trước khi số lượng vi khuẩn trở nên kinh hoàng như vậy. Tiến sĩ Tierno cho biết: "Nếu sau mỗi lần sử dụng bạn đều phơi khô tuyệt đối, thì tối đa là... 3 lần sử dụng".

Và đó là chỉ tính trong trường hợp bạn phơi khăn tắm ở nơi thoáng mát. Nếu bạn phơi khăn tắm ở nơi có độ ẩm cao như ngay tại chính phòng tắm của bạn, khả năng cao là chỉ sau một lần sử dụng, khăn tắm sẽ "bốc mùi". Theo Tierno: "Nếu khăn tắm có mùi tức là có vi khuẩn đang sinh sôi và sẽ cần được giặt ngay lập tức".

Tuy nhiên bên cạnh đó, dù phần lớn vi khuẩn này có thể không gây hại cho bạn vì cơ thể bạn đã quen với chúng, nhưng nếu bạn dùng chung khăn tắm, bạn có thể phải tiếp nhận những vi khuẩn mà cơ thể chưa từng tiếp cận - như tụ khuẩn cầu vàng (Staphylococcus aureus) - gây giảm sức đề kháng của chúng ta.

Nguồn: kenh14.vn

Vi trùng lây lan bằng cách nào?

Vi trùng không có chân, không có tay. Vậy chúng lây lan bằng cách nào để có thể tạo ra các ổ dịch. Ảnh bên dưới sẽ cho bạn biết điều này.


Nguồn: xem trên hình

Bàn tay người

Hãy cẩn thận với bàn tay của bạn

Đây chính là lý do tại sao bạn cần rửa tay thật sạch!

E.coli lây lan thế nào

Viêm gan A lây lan như thế nào?

Viêm gan A là bệnh dễ dàng lây qua đường tiêu hóa, khi ăn phải thực phẩm bẩn chứa vi rút gây bệnh. Không chỉ 13 trường hợp tại Úc nhiễm bệnh do ăn hoa quả bẩn mà ở Việt Nam, nhiều ổ dịch viêm gan A đã xảy ra do tập quán sinh hoạt chưa khoa học của người dân. Virus gây viêm gan A (HAV) lây truyền từ người qua người theo đường phân, miệng: virus đi từ phân của người mắc bệnh vào thức ăn đồ uống và người lành tiếp xúc với virus qua thức ăn đồ uống đã bị nhiễm. Điều này cho thấy việc lây truyền viêm gan A liên quan đến vấn đề vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm và vệ sinh môi trường. Trái cây hay thực phẩm vì lý do nào đó bị vấy bẩn từ phân của người có vi rút viêm gan A (ví như nhiễm vào nước rửa, ô nhiễm nguồn nước và dùng nguồn nước này để ngâm trái cây, chế biến thực phẩm... khi ăn phải nó sẽ bị nhiễm).

Nguồn: http://giadinh.net.vn

Dế yêu của bạn có thể bẩn gấp 10 lần bồn cầu!

Điện thoại di động cũng là một trong những món đồ công nghệ “bẩn” không kém với số lượng vi khuẩn nhiều gấp 10 lần so với bồn cầu.

Một nghiên cứu khoa học đã chứng minh chiếc bàn phím bình thường cũng có số lượng vi khuẩn nhiều gấp 100 lần so với chiếc bồn cầu, trong khi đó điện thoại di động cũng là một trong những món đồ công nghệ “bẩn” không kém với số lượng vi khuẩn nhiều gấp 10 lần so với bồn cầu.

Các vi khuẩn này không thể nhìn thấy bằng mắt thường, do đó mà chúng ta không thể biết được chiếc smartphone mình đang cầm có nhiều vi khuẩn đến thế nào.

Nhằm nghiên cứu mức độ vi khuẩn trên những chiếc điện thoại di động ngày nay, một số sinh viên tại khoa vi sinh trường đại học Surrey đã tiến hành một vài thử nghiệm thú vị. Họ lấy một số mẫu vỏ điện thoại smartphone và sau đó cho ngâm vào dung dịch Petri để kích thích sự tăng trưởng của các vi khuẩn. Giúp chúng ta dễ dàng quan sát được bằng mắt thường.

Trong nhiều trường hợp, các vi khuẩn được phát hiện là tương đối vô hại, nhưng trên một số trường hợp, các vi khuẩn mang bệnh Staphylococcus aureus đã được phát hiện. Người ta cho rằng 20 phần trăm của người mang lâu dài của các lỗi, mà thường ẩn nấp bên trong hốc mũi.

Sau ba ngày, những hình ảnh nhận được thực sự gây sốc. Không chỉ số lượng vi khuẩn phát triển một cách chóng mặt, mà trong đó các sinh viên này còn phát hiện những vi khuẩn có hại mang mầm bệnh. Các vi khuẩn này có thể lây lan dễ dàng qua việc tiếp xúc với các bề mặt , trong khi việc sử dụng smartphone là quá đỗi bình thường khiến cho không ai nghĩ đến việc phải rửa tay sau khi cầm điện thoại.

Nhiều người lành mang vi khuẩn Staphylococcus aureus trên da và trong mũi của họ mà không nhận được sick. Nhưng khi da bị đâm thủng hoặc bị hỏng, tụ cầu khuẩn có thể nhập vào các vết thương và gây nhiễm trùng. Nó là một nguyên nhân phổ biến của nhiễm trùng tụ cầu khuẩn bao gồm ngộ độc thực phẩm, bệnh chốc lở và thậm chí nhiễm trùng huyết.

Thí nghiệm trên của các sinh viên được tiến hành trên yêu cầu của tiến sĩ Simon Park tại trường đại học Surrey. Tiến sĩ Simon cho biết: “mức độ vi khuẩn trên những chiếc smartphone này là gấp 10 lần so với mức độ cho phép, trong đó có những loại vi khuẩn gây bệnh như Staphylococcus và Bacillus có thể lây nhiễm qua đường hô hấp và qua tổn thương trên da nếu tiếp xúc. Do đó mà smartphone có thể là nguy cơ gây bệnh rất lớn trong xã hội hiện đại ngày nay”.

Một phát hiện vi khuẩn Bacillus mycoides được. Vi khuẩn này thường được tìm thấy trong đất, trong đó cho thấy điện thoại hoặc sử dụng của nó đã được tiếp xúc với đất gần đây. Mycoides Bacillus được tìm thấy trong thuốc trừ sâu phổ biến và được sử dụng để ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn có hại và nấm

Một vài nghiên cứu khoa học gần đây cũng cảnh báo khoảng 14,7 triệu chiếc điện thoại di động trong tổng số 63 triệu chiếc trên nước Anh là mối nguy hiểm đe dọa sức khỏe của người sử dụng.

Nguồn: khoahoc.com.vn

Bệnh dịch: Đừng xem thường!

Năm 1918, một trận đại dịch cúm đã khiến 500 triệu người bị nhiễm và giết chết khoảng 3 đến 5% dân số toàn cầu. Đó là một trong những thiên tai nguy hiểm nhất trong lịch sử vì chỉ trong 25 tuần đã có 25 triệu người chết. Nó là dịch bệnh đứng đầu bảng xếp hạng các trận dịch bệnh trong 100 năm qua.

Thế kỷ 14 đã có một trận đại dịch khủng khiếp nhất trong lịch sử văn minh với 200 triệu người bị chết vì dịch hạch. Nó được cho là do bọ chét ở bàn chân của những con chuột châu Á và chuột đen đi theo các thuyền buôn. Trận dịch này đã làm dân số châu Âu giảm đi một nửa và làm dân số toàn thế giới giảm đi rõ rệt trong thế kỷ 14.

Nguồn: baomoi.com

10 ký sinh trùng đáng sợ đang ẩn nấp trong cơ thể bạn


Nguồn: khoahoc.com.vn

Cách vi khuẩn lây nhiễm từ toilet đến miệng người!

Bạn có thể nhìn thấy bàn làm việc của mình trông tương đối sạch sẽ. Tuy nhiên, một đoạn video mới công bố hé lộ, chiếc bàn làm việc đó có thể tràn ngập những vi khuẩn vô hình trước mắt thường, có nguồn gốc từ nhà vệ sinh và dễ dàng lây lan tới tay cũng như miệng của bạn với tốc độ nhanh đến kinh ngạc.

Trước thực tế là 1/4 số nhân viên văn phòng đã không rửa tay đủ và đúng cách sau khi đi vệ sinh, mọi thứ ở chốn công sở, từ cánh cửa tới bàn phím và chuột máy tính có thể bị hàng triệu vi khuẩn bao phủ.

Để tránh bị ốm, các chuyên gia đã đưa ra khuyến nghị về những cách tốt nhất nhằm giúp chúng ta tiếp nhận càng ít vi khuẩn càng tốt.

Giáo sư, tiến sĩ Lisa Ackerley đến từ Hiệp hội sức khỏe cộng đồng Hoàng gia Anh, đã lên tiếng cảnh báo về "hiệu ứng hắt hơi" khi giật nước bồn cầu. Theo chuyên gia này, không đậy nắp bồn cầu trước khi giật nước đồng nghĩa, vi khuẩn từ bồn cầu sẽ bị bắn tung tóe và phát tán khắp buồng vệ sinh. Do đó, những vi khuẩn này có thể đáp xuống bệ ngồi bồn cầu, giấy vệ sinh và bao phủ các bề mặt ở cách xa tới 20 bước chân, kể cả đôi tay của người.

Bà Ackerley cho biết, để chống lại "hiệu ứng hắt xì hơi", chúng ta cần sử dụng nước tẩy bồn cầu kháng khuẩn.

Thông thường, sau mỗi lần đi vệ sinh, chúng ta có khoảng 200 triệu vi khuẩn trên mỗi 6,5cm2 diện tích da của bàn tay. Và đôi bàn tay mang vi trùng có thể lan truyền những vi sinh vật này tới 5 bề mặt nữa hoặc 14 vật thể khác.

Trong thực tế, các nhà nghiên cứu Mỹ phát hiện, khi cho nhiễm khuẩn chỉ một nắm đấm cửa hoặc mặt bàn bằng một loại virus đánh dấu vô hại, nó đã lan khắp một tòa nhà văn phòng, khách sạn hoặc cơ sở chăm sóc y tế rất nhanh, chỉ trong vòng 2 - 4 giờ đồng hồ.

Tiến sĩ Ackerley giải thích: "Chúng ta đã biết từ kết quả các nghiên cứu rằng, các vi sinh vật có thể tồn tại với số lượng đông đảo, lên tới 3.000 cá thể mỗi 6,5cm2 trên bàn phím máy tính và hơn 1.600 cá thể trên một con chuột máy tính. Trong thời gian một ngày, bạn có thể "dính" phải các vi khuẩn này và sau đó, bạn đột nhiên muốn ăn trưa tại bàn làm việc mà không rửa tay trước tiên, nên về cơ bản, bạn đã vận chuyển chúng vào miệng của mình".

16% mọi người được phát hiện đang mang norovirus - loại vi trùng gây nôn mửa và tiêu chảy, nhưng không bộc lộ triệu chứng. Vì vậy, dù họ có cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh, họ vẫn đang mang mầm bệnh đó đi đây đó và phát tán chúng khắp chốn công sở.

Bà Ackerley đề xuất việc sử dụng dung dịch rửa tay (sản phẩm khử trùng tay không cần dùng kèm nước) sau khi rời nhà vệ sinh và trong ngày. "Điều này đồng nghĩa, nếu ai đó quên rửa tay, họ sẽ không nhiễm vi trùng và sau đó phát tán nó khắp nơi làm việc", bà Ackerley nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo bà Ackerley, cách hữu hiệu nhất để ngăn nhiễm trùng ở công sở vẫn là rửa tay bằng xà phòng với nước. Chúng ta có thể giảm tới gần một nửa số bệnh nhiễm trùng chỉ đơn giản nhờ rửa tay nghiêm chỉnh. Chỉ 20 giây rửa tay đúng cách có thể ngăn sự lây lan của vi khuẩn từ bồn cầu.

Tiến sĩ Ackerley lưu ý thêm rằng, việc đảm bảo đôi bàn tay khô ráo sau khi rửa cũng rất quan trọng. Điều này là vì, các vi trùng được phát hiện dễ lan truyền sang các bề mặt khác hơn nếu chúng ẩm ướt.


Nguồn: khoahoc.com.vn

Bệnh truyền nhiễm do trực khuẩn lỵ shigella


- Nhiễm Shigella là bệnh lý viêm nhiễm cấp tính ở đường tiêu hoá do trực khuẩn Shigella gây nên.

- Biểu hiện bệnh lý thay đổi từ thể tiêu chảy phân nước nhẹ cho đến các thể nặng nề với đau bụng quặn, mót rặn, tiêu phân nhày máu, sốt và dấu hiệu nhiễm trùng nhiễm độc.

- Shigella còn gây các biểu hiện bệnh lý ở ngoài đường tiêu hoá như viêm kết mạc, viêm âm đạo, viêm phổi, viêm khớp, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết...

- Biểu hiện ở đường tiêu hoá thường tự khỏi trong vài ngày. Dùng kháng sinh sớm có tác dụng giúp hồi phục sớm và rút ngắn thời gian thải vi khuẩn ra phân.

1. Tác nhân gây bệnh.


Năm 1897: Shigella được Shiga đầu tiên xác định là nguyên nhân gây lỵ.

1.1. Đặc điểm vi khuẩn.

- Shigella là trực khuẩn Gram âm không di động, thuộc họ Enterobateriaceae. Dựa vào đặc điểm kháng nguyên thân O và các đặc tính sinh hoá, người ta chia làm 4 nhóm chính: A, B, C, D như sau :

- Shigella dysenteriae:Nhóm A

- Shigella flexneri: Nhóm B

- Shigella boydii: Nhóm C

- Shigella sonnei: Nhóm D.

- Shigella dysenteriae 1 (còn gọi là trực khuẩn Shiga) hay gây dịch và tử vong cao hơn các týp khác.

1.2. Độc tố.

- Shigella có nội độc tố có bản chất lipopolysaccharide, có hoạt tính sinh học giống như nội độc tố của các loài Enterobacteriaceae khác.

- Ngoài ra trực khuẩn Shiga còn tiết ra ngoại độc tố có tác dụng ức chế sự sinh tổng hợp protein, có hoạt tính như một enterotoxin. Có ý kiến cho rằng đây là nguyên nhân gây nên các triệu chứng nhiễm độc thần kinh hay gặp ở trẻ em.

- Sau khi được tiết ra, độc tố sẽ gắn dính vào cảm thụ thể bản chất là glycoprotein ở màng tế bào. Sau đó phần hoạt hoá được chuyển vào bên trong tế bào và ngăn cản sự tổng hợp protein ở phần 60S của ribosome.

2. Dịch tễ học.


Bệnh lý do Shigella có thể thấy ở khắp thế giới, vẫn còn hay gặp ở các nước có điều kiện sống thấp kém, vệ sinh cá nhân và cộng đồng kém hiệu quả.

2.1. Nguồn bệnh.

Người là vật chủ duy nhất. Người lành mang vi khuẩn, người bệnh, người đang thời kỳ hồi phục thải nhiều vi khuẩn trong phân và lây bệnh cho người xung quanh.

2.2. Đường lây truyền bệnh.

- Người bệnh không được điều trị tiếp tục thải vi khuẩn ra phân đến sáu tuần sau khi khỏi bệnh và là nguồn lây quan trọng.

- Vi khuẩn được tìm thấy rất nhiều trên các đồ dùng của người bệnh, đặc biệt là bồn vệ sinh. Vi khuẩn có thể xuyên qua giấy vệ sinh, nhiễm tay người bệnh và cấy dương tính ở tay bẩn sau nhiễm khuẩn ba giờ.

- Bệnh lây chủ yếu trực tiếp từ người sang người qua tay bẩn. Vi khuẩn nhậy cảm với sự khô ráo, nhưng sống được nhiều tháng ở nhiệt độ thích hợp trong thức ăn và nước.

- Lây gián tiếp qua trung gian như đồ dùng, thực phẩm, nước, do ruồi nhặng.

- Bệnh có thể gây dịch ở những nơi sống chật chội, điều kiện vệ sinh cá nhân kém, nguồn nước ô nhiễm, nơi có tập quán dùng phân tươi để bón hoa màu. Bệnh hay bộc phát trong các tập thể như nhà dưỡng lão, trung tâm nuôi trẻ, trường học, ký túc xá, nhà giam...

- Bệnh ngày càng được lưu ý ở những trường hợp đồng tính ái nam và là nguyên nhân dẫn đến hội chứng Gay bowell.

2.3. Cơ thể cảm thụ.

- Đối tượng hay mắc bệnh là trẻ em 1 - 4 tuổi. Nữ nhiều hơn nam.

3. Sinh bệnh học.


- Do tính chất đề kháng với acid, Shigella sau khi xâm nhập vào đường tiêu hoá, dễ dàng qua hàng rào acid của dạ dày.

- Trên người tình nguyện: Nuốt 200 vi khuẩn có thể gây bệnh ở 25% người khoẻ mạnh. Sau thời kỳ ủ bệnh 24 - 72giờ, vi khuẩn qua ruột non đến xâm nhập vào tế bào thượng bì của ruột già, tăng sinh trong nội bào gây nên phản ứng viêm cấp tính lớp niêm mạc đại tràng. Giai đoạn này tương ứng với thời kỳ tiền triệu với các triệu chứng nhiễm trùng không đặc hiệu hoặc đau bụng và đi ngoài phân lỏng.

- Sau đó, lớp tế bào thượng bì sẽ bị huỷ hoại tróc ra và tạo nên các ổ loét nông trên nền lớp niêm mạc viêm lan toả chứa nhiều chất nhầy và bạch cầu đa nhân. Giai đoạn này bệnh nhân thải rất nhiều vi khuẩn theo phân ra ngoài.

- Tổn thương lúc đầu khu trú ở đại tràng sigma và trực tràng, sau bốn ngày có thể lan đến phần trên của đại tràng; trường hợp nặng có viêm lan tỏa toàn bộ khung đại tràng, lan đến đoạn cuối hồi tràng. Tiêu chảy xuất hiện do rối loạn hấp thụ nước và điện giải bởi đại tràng viêm.

- Phản ứng viêm ở đại tràng thường nông. Riêng đối với Shigella dysenteriae 1 đôi khi có thể đưa đến vãng khuẩn huyết (Bacteremia). Thủng đại tràng thường hiếm gặp.

- ở trẻ em: nhiễm Shigella dysenteriae 1 với viêm đại tràng nặng có thể xuất hiện "Hội chứng tán huyết urê huyết cao" do vỡ hồng cầu và lắng đọng cục fibrin gây tắc mạch máu cầu thận.

- Miễn dịch thể dịch qua nhiễm Shigella có vai trò quan trọng, chủ yếu là loại IgA.

4. Lâm sàng


4.1. Thời kỳ ủ bệnh:
Không có biểu hiện lâm sàng. Thường kéo dài 12 - 72 giờ (trung bình 1 - 5 ngày)

4.2. Thời kỳ khởi phát

- Đột ngột với các triệu chứng không đặc hiệu:

+ Hội chứng nhiễm trùng: Sốt cao 39 – 40oC đột ngột, thường kèm theo ớn lạnh, đau nhức cơ toàn thân, mệt mỏi biếng ăn, buồn nôn hoặc nôn mửa. ở trẻ nhỏ có thể co giật do sốt cao.

+ Triệu chứng tiêu hoá: Khởi đầu là tiêu chảy phân lỏng hoặc tiêu toàn nước vàng, kèm theo đau bụng có thể dẫn đến mất nước và điện giải nặng, suy thận cấp, nhưng thường không đến mức đe doạ tính mạng trừ ở trẻ quá nhỏ và người già.

- Giai đoạn này kéo dài một đến ba ngày.

4.3. Thời kỳ toàn phát.

Bệnh diễn tiến thành bệnh cảnh lỵ đầy đủ với:

- Đi ngoài phân nhầy, nhiều lần, lượng phân càng lúc càng ít dần. Trường hợp nặng có thể đến 20 - 40 lần/ngày.

- Mót rặn nhiều, ngày càng tăng, đau thắt ở vùng trực tràng, có thể dẫn đến sa trực tràng ở người già, suy kiệt.

- Đau bụng quặn từng cơn, nhưng thường giảm sau vài ngày. Thể trạng suy sụp nhanh chóng, người mệt mỏi, hốc hác, môi khô, lưỡi vàng bẩn.

- Khám bụng thường thấy đau rõ ở nửa dưới bụng bên trái, vùng đại tràng sigma, hoặc đau toàn bộ khung đại tràng.

4.4. Diễn biến và các thể lâm sàng.

Thông thường sau một đến hai tuần không điều trị bệnh cũng cải thiện dần. Tuy nhiên, bệnh cảnh lâm sàng có khi rất khác nhau như:

- Có thể nặng và cấp với sốt cao, lạnh run, tiêu chảy ồ ạt, rối loạn nước điện giải, suy tuần hoàn, tử vong; thường là do nhiễm Shigella dysenteriae 1.

- Có thể nhẹ (thường là do nhiễm S. sonnei) với tiêu chảy nhẹ hoặc không triệu chứng rõ, chỉ có đau bụng âm ỉ, tiêu phân lỏng thoáng qua sau đó tự khỏi.

- Thể mạn tính: bệnh nhân đi ngoài mũi máu kéo dài làm mất nhiều đạm, rối loạn nước điện giải kéo dài, suy kiệt.

- Ở trẻ em 1-4 tuổi thường bệnh cấp tính với sốt rất cao kèm co giật, biểu hiện thần kinh như li bì, lơ mơ, đau đầu, cổ cứng. Một số trường hợp có thể tử vong do hội chứng tán huyết urê huyết cao hoặc sốc nội độc tố.

5. Cận lâm sàng.


5.1. Công thức máu:
ít có giá trị chẩn đoán.

- Bạch cầu thường tăng trong khoảng 5.000 - 15.000/mm2 với tăng tỷ lệ đa nhân trung tính. Có thể đến 30.000/mm3.

5.2. Xét nghiệm phân:
Có giá trị quan trọng và cần thiết để chẩn đoán. Xét nghiệm phân gồm có:

- Soi phân tươi: Xem đại thể: trường hợp nặng thấy phân lỏng có nhiều nhầy mủ lẫn máu, soi sẽ thấy rất nhiều hồng cầu, bạch cầu đa nhân.

- Cấy phân: Do tính chất kháng thuốc qua trung gian plasmid vi khuẩn ngày càng kháng với các kháng sinh thông thường nên cần phải làm kháng sinh đồ (KSĐ).

5.3. Soi trực tràng

- Thấy hình ảnh viêm lan toả cấp tính niêm mạc, có nhiều vết loét nông đường kính 3-7mm, có thể xuất huyết chỗ loét và cần lấy chất nhầy tại chỗ loét để tìm vi khuẩn.

5.4. Huyết thanh chẩn đoán:
ít có giá trị trên thực tế.

- Phương pháp miễn dịch huỳnh quang trực tiếp: Trên thực tế chỉ dùng huyết thanh đơn giá để chẩn đoán bệnh nhanh khi có dịch ở địa phương do một týp huyết thanh đ• biết trước.

- Phản ứng ngưng kết: Phát hiện kháng thể trong huyết thanh nhưng không có giá trị chẩn đoán sớm.

6. Biến chứng


- Thường ít xảy ra, ngay cả trong trường hợp không được điều trị, trừ ở người già và trẻ em nhỏ.

6.1. Biến chứng sớm

- Sốc do mất nước và điện giải.

- Thủng ruột già ở cơ địa suy kiệt.

- Sa trực tràng hay gặp ở người già.

- Nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram âm (thường là E. coli).

- Viêm màng não, viêm phổi, viêm tuyến mang tai, viêm thần kinh ngoại biên, hội chứng tán huyết urê huyết cao.

6.2. Biến chứng muộn

- Suy dinh dưỡng, phù nề toàn thân do mất đạm kéo dài.

- Viêm khớp gối, mắt cá chân.

- Hội chứng Reiter ở người có HLA-B27 dương tính.

7. Điều trị


7.1. Bồi phụ nước điện giải

- Cần được thực hiện như các trường hợp tiêu chảy khác với dung dịch ORS uống sớm, hoặc dịch truyền nếu mất nước điện giải nặng.

7.2. Kháng sinh

- Có vai trò rút ngắn thời gian bệnh và giảm ngắn thời gian thải vi khuẩn ra phân. Các loại kháng sinh đang được dùng là:

- Ampicillin 2g/ngày, chia làm bốn lần x 5 ngày, ở trẻ em 100mg/kg/ngày, chia bốn lần.

- Trimethoprim + Sulfamethoxazole (viên 80mg + 400mg) x 2viên x 2lần/ngày x 5 ngày cho người lớn. Hoặc 48mg/kg chia 2 lần/ngày cho trẻ em.

- Hiện nay, tỉ lệ vi khuẩn kháng hai loại kháng sinh trên ngày càng tăng. Trường hợp này có thể dùng: Quinolone thế hệ thứ ba như (không dùng cho trẻ em):

+ Ciprofloxacine 500mg x 2 lần/ngày hoặc

+ Pefloxacine 400mg x 2 lần/ngày hoặc

+ Ofloxacine 200mg x 2 lần/ngày.

- Một số thuốc có tác dụng in vitro nhưng không có tác dụng in vivo như Amoxicilline, Neomycine, Kanamycine.

7.3. Điều trị triệu chứng

- Các thuốc làm giảm nhu động ruột có thể làm cải thiện triệu chứng nhưng không nên sử dụng vì làm kéo dài thời gian bệnh và làm chậm thải trừ vi khuẩn.

8. Tiên lượng


- Tỷ lệ tử vong tuỳ theo cơ địa bệnh nhân và tuỳ dòng Shigella gây bệnh. ở các dịch do S. dysenteriae 1 tử vong 10-30%. S. sonnei chỉ gây tử vong 1%.

- Nếu được điều trị thích hợp và sớm, tử vong có thể giảm đến 0%.

- 2% bệnh nhân có xuất hiện viêm khớp, hội chứng Reiter nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau hồi phục.

9. Phòng bệnh.


Hoá dự phòng cho số đông trong vùng dịch kém hiệu quả, lại gây nguy cơ tạo các chủng kháng thuốc. Người là nguồn lây duy nhất. Do việc phòng bệnh nhằm vào ba vấn đề chủ yếu:

- Vệ sinh thực phẩm, vệ sinh ăn uống, và vệ sinh nước: Cần rửa tay cẩn thận trước khi ăn và chế biến thực phẩm. Sử dụng nước sạch. Xử lý nước thải hợp vệ sinh. Diệt ruồi nhặng. Kiểm tra vệ sinh các loại thức uống và thức ăn chế biến sẵn.

- Phát hiện và cách ly người bệnh. Khử khuẩn chất thải của người bệnh.

- Kiểm tra phát hiện và điều trị người lành mang trùng, người nhiễm trùng nhẹ, nhất là nhân viên trong các khâu chế biến và phân phối thực phẩm.

PGS. TS Nguyễn Đức Hiền (Viện YHLS bệnh Nhiệt đới QG)
Đăng tải trên: http://benh.vn


Tổng quan về Salmonella và các biện pháp phòng ngừa.


Bên dưới là thông tin về Salmonella, nguồn gốc lây nhiễm và cách thức phòng ngừa theo khuyến cáo của Ban Y tế & Sức khỏe Úc Châu.



30% thịt heo, gà tại HCM bị nhiễm vi khuẩn Salmonella


Giám sát với 3.929 mẫu

Cố vấn trưởng Dự án SIESAF – ông Nakaniwa Hiroshi chia sẻ: "Dự án tăng cường năng lực hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm (ATTP) nông, thủy sản có thời gian từ tháng 12.2011 – 11.2014. Mục đích chính của dự án là hỗ trợ cải thiện ATTP nông thủy sản thông qua xây dựng và thực hiện các chương trình giám sát quốc gia về ATTP”. Trong 1 năm triển khai từ 5.2013 – 4.2014 cơ quan thực hiện đã lấy 3.929 mẫu giám sát với chỉ tiêu giám sát bao gồm: Vi sinh vật gây bệnh (Salmonella), độc tố vi nấm (Aflatoxin), thuốc bảo vệ thực vật – BVTV (71 hoạt chất), thuốc thú y (nhóm Beta agonist, Tetracyclines; Quinolone) và Histamin.

Vi khuẩn Salmonella(ảnh wikipedia.org)

Tại TP.Hồ Chí Minh sau khi lấy 1.618 giám sát tại chợ đầu mối Bình Điên, Hóc Môn, Thủ Đức và đại lý gạo, điều, cơ quan giám sát chia ra các nhóm sản phẩm được lấy mẫu gồm: Thịt gà, thịt heo, rau ăn lá (muống, cải), cá biển (thu, ngừ, nục), rau ăn quả (cà chua, đậu đỗ) và gạo, hạt điều. Trong đó thịt heo phát hiện Salmonella trong 71/231 mẫu kiểm nghiệm (chiếm 30,74%), thịt gà phát hiện Salmonella trong 105/231 mẫu kiểm nghiệm (chiếm 45,45%). Ngoài ra, chương trình giám sát còn phát hiện 11/234 mẫu rau ăn lá có dư lượng thuốc BVTV vượt giới hạn cho phép (chiếm 4,7%); phát hiện 11/129 mẫu rau ăn quả có dư lượng thuốc BVTV. Riêng đối với cà chua và rau cải cơ quan kiểm nghiệm còn phát hiện thuốc BVTV cấm sử dụng Methamidophos. Với mẫu gạo kết quả giám sát cũng phát hiện dư lượng thuốc BVTV (tỷ lệ 7,79%) và mẫu cá biển có 13/231 mẫu kiểm nghiệm có Samonella.

Với tổng số 693 mẫu lấy tại một số chợ kinh doanh lớn, tập trung ở Cần Thơ như: Cái Khế, Xuân Khánh, Ô Môn, Tân An và Thốt Nốt cho kết quả như sau: Đối với mẫu thịt heo, thịt gà không phát hiện thấy các hóa chất, nhóm kháng sinh cấm. Tuy nhiên kết quả mẫu cá nước ngọt, cơ quan giám sát đã phát hiện dư lượng kháng sinh cấm sử dụng và dư lượng kháng sinh hạn chế sử dụng vượt giới hạn cho phép trong 27/231 mẫu chủ yếu là cá lóc, cá rô (chiếm 11,69%).

Nguồn: dantri.com.vn


E.coli

E.coli là gì?


E.coli (Escherichia coli) là vi sinh vật hiện diện trong đường ruột của người và các loài động vật máu nóng. Hầu hết các dòng E.coli không gây hại và đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định sinh lý đường ruột. Tuy nhiên có 4 dòng E.coli có thể gây bệnh cho người và một số loài động vật là Enteropathogenic E.coli, Enterotoxigenic E.coli, Enteroinvasive E.coli và Enterohaemorrhagic E.coli hay còn gọi là E.coli O157:H7.

Chúng ta thường gặp E.coli ở đâu?


Các loài E.coli hiện diện rộng rãi trong môi trường bị ô nhiễm phân hay chất thải hữu cơ, phát triển và tồn tại rất lâu trong môi trường. Gần đây, người ta còn chứng minh được rằng E.coli cũng hiện diện ở những vùng nước ấm không bị ô nhiễm chất hữu cơ.

Thực phẩm bị nhiễm E.coli như thế nào?


Do sự phân bố rộng rãi trong tự nhiên như vậy nên E.coli dễ dàng bị nhiễm vào thực phẩm từ nguyên liệu hay thông qua nguồn nước trong quá trình sản xuất, chế biến.

Biểu hiện khi bị nhiễm E.coli?


Các dòng E.coli gây bệnh gây ra các triệu chứng rối loạn đường tiêu hoá. Biểu hiện lâm sàng thay đổi từ nhẹ đến rất nặng, có thể gây ra chết người phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm, dòng gây nhiễm và khả năng đáp ứng của từng người.

Tiêu chảy ra máu là triệu chứng chính của nhiễm E.coli. Người bị nhiễm cũng có thể cảm thấy đau thắt bao tử và nôn ói. Triệu chứng chính thường bắt đầu 3 hay 4 ngày sau khi bị phơi nhiễm vi khuẩn E.coli. Phần lớn bệnh nhân hồi phục sau vài ngày hay một tuần sau khi mắc bệnh. Tuy nhiên cũng có thể có nhiều người bị nhiễm mà không có triệu chứng và không mắc bệnh.

Khi bệnh nhân bị nhiễm E. coli nghiêm trọng (tức có thể làm rối loạn máu và suy thận), một số biểu hiện có thể dễ nhận thấy như:
- Da xanh xao
- Cảm lạnh
- Cảm thấy yếu cơ
- Xuất hiện những vết thâm tím trên người
- Đi tiểu rất ít nước tiểu

Phát hiện E.coli bị nhiễm trong thực phẩm và trong nước bằng cách nào?


Nước và thực phẩm bị nhiễm E.coli chẳng có biểu hiện gì đặc biệt nên rất khó mà biết nước uống và thức ăn mà chúng ta dùng hàng ngày có bị nhiễm E.coli hay không? Thông thường, để phát hiện thực phẩm hay nước bị nhiễm E.coli phải thực hiện các thí nghiệm. Các thí nghiệm này được thực hiện rất phổ biến tại các cơ sở cung cấp dịch vụ phân tích thí nghiệm. Chi phí thực hiện cũng tương đối thấp.

Tiêu diệ E.coli bằng cách nào?


- Nấu chín thực phẩm ở nhiệt độ tối thiểu 70 oC từ 15 giây trở lên có thể hoàn toàn tiêu diệt được E.coli
- Các loại hóa chất khử trùng cũng có thể có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt loại vi khuẩn gây bệnh này

Nguồn: internet