Hiển thị các bài đăng có nhãn Vi khuẩn. Hiển thị tất cả bài đăng

Cách vi khuẩn lây nhiễm từ toilet đến miệng người!

Bạn có thể nhìn thấy bàn làm việc của mình trông tương đối sạch sẽ. Tuy nhiên, một đoạn video mới công bố hé lộ, chiếc bàn làm việc đó có thể tràn ngập những vi khuẩn vô hình trước mắt thường, có nguồn gốc từ nhà vệ sinh và dễ dàng lây lan tới tay cũng như miệng của bạn với tốc độ nhanh đến kinh ngạc.

Trước thực tế là 1/4 số nhân viên văn phòng đã không rửa tay đủ và đúng cách sau khi đi vệ sinh, mọi thứ ở chốn công sở, từ cánh cửa tới bàn phím và chuột máy tính có thể bị hàng triệu vi khuẩn bao phủ.

Để tránh bị ốm, các chuyên gia đã đưa ra khuyến nghị về những cách tốt nhất nhằm giúp chúng ta tiếp nhận càng ít vi khuẩn càng tốt.

Giáo sư, tiến sĩ Lisa Ackerley đến từ Hiệp hội sức khỏe cộng đồng Hoàng gia Anh, đã lên tiếng cảnh báo về "hiệu ứng hắt hơi" khi giật nước bồn cầu. Theo chuyên gia này, không đậy nắp bồn cầu trước khi giật nước đồng nghĩa, vi khuẩn từ bồn cầu sẽ bị bắn tung tóe và phát tán khắp buồng vệ sinh. Do đó, những vi khuẩn này có thể đáp xuống bệ ngồi bồn cầu, giấy vệ sinh và bao phủ các bề mặt ở cách xa tới 20 bước chân, kể cả đôi tay của người.

Bà Ackerley cho biết, để chống lại "hiệu ứng hắt xì hơi", chúng ta cần sử dụng nước tẩy bồn cầu kháng khuẩn.

Thông thường, sau mỗi lần đi vệ sinh, chúng ta có khoảng 200 triệu vi khuẩn trên mỗi 6,5cm2 diện tích da của bàn tay. Và đôi bàn tay mang vi trùng có thể lan truyền những vi sinh vật này tới 5 bề mặt nữa hoặc 14 vật thể khác.

Trong thực tế, các nhà nghiên cứu Mỹ phát hiện, khi cho nhiễm khuẩn chỉ một nắm đấm cửa hoặc mặt bàn bằng một loại virus đánh dấu vô hại, nó đã lan khắp một tòa nhà văn phòng, khách sạn hoặc cơ sở chăm sóc y tế rất nhanh, chỉ trong vòng 2 - 4 giờ đồng hồ.

Tiến sĩ Ackerley giải thích: "Chúng ta đã biết từ kết quả các nghiên cứu rằng, các vi sinh vật có thể tồn tại với số lượng đông đảo, lên tới 3.000 cá thể mỗi 6,5cm2 trên bàn phím máy tính và hơn 1.600 cá thể trên một con chuột máy tính. Trong thời gian một ngày, bạn có thể "dính" phải các vi khuẩn này và sau đó, bạn đột nhiên muốn ăn trưa tại bàn làm việc mà không rửa tay trước tiên, nên về cơ bản, bạn đã vận chuyển chúng vào miệng của mình".

16% mọi người được phát hiện đang mang norovirus - loại vi trùng gây nôn mửa và tiêu chảy, nhưng không bộc lộ triệu chứng. Vì vậy, dù họ có cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh, họ vẫn đang mang mầm bệnh đó đi đây đó và phát tán chúng khắp chốn công sở.

Bà Ackerley đề xuất việc sử dụng dung dịch rửa tay (sản phẩm khử trùng tay không cần dùng kèm nước) sau khi rời nhà vệ sinh và trong ngày. "Điều này đồng nghĩa, nếu ai đó quên rửa tay, họ sẽ không nhiễm vi trùng và sau đó phát tán nó khắp nơi làm việc", bà Ackerley nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo bà Ackerley, cách hữu hiệu nhất để ngăn nhiễm trùng ở công sở vẫn là rửa tay bằng xà phòng với nước. Chúng ta có thể giảm tới gần một nửa số bệnh nhiễm trùng chỉ đơn giản nhờ rửa tay nghiêm chỉnh. Chỉ 20 giây rửa tay đúng cách có thể ngăn sự lây lan của vi khuẩn từ bồn cầu.

Tiến sĩ Ackerley lưu ý thêm rằng, việc đảm bảo đôi bàn tay khô ráo sau khi rửa cũng rất quan trọng. Điều này là vì, các vi trùng được phát hiện dễ lan truyền sang các bề mặt khác hơn nếu chúng ẩm ướt.


Nguồn: khoahoc.com.vn

Bệnh truyền nhiễm do trực khuẩn lỵ shigella


- Nhiễm Shigella là bệnh lý viêm nhiễm cấp tính ở đường tiêu hoá do trực khuẩn Shigella gây nên.

- Biểu hiện bệnh lý thay đổi từ thể tiêu chảy phân nước nhẹ cho đến các thể nặng nề với đau bụng quặn, mót rặn, tiêu phân nhày máu, sốt và dấu hiệu nhiễm trùng nhiễm độc.

- Shigella còn gây các biểu hiện bệnh lý ở ngoài đường tiêu hoá như viêm kết mạc, viêm âm đạo, viêm phổi, viêm khớp, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết...

- Biểu hiện ở đường tiêu hoá thường tự khỏi trong vài ngày. Dùng kháng sinh sớm có tác dụng giúp hồi phục sớm và rút ngắn thời gian thải vi khuẩn ra phân.

1. Tác nhân gây bệnh.


Năm 1897: Shigella được Shiga đầu tiên xác định là nguyên nhân gây lỵ.

1.1. Đặc điểm vi khuẩn.

- Shigella là trực khuẩn Gram âm không di động, thuộc họ Enterobateriaceae. Dựa vào đặc điểm kháng nguyên thân O và các đặc tính sinh hoá, người ta chia làm 4 nhóm chính: A, B, C, D như sau :

- Shigella dysenteriae:Nhóm A

- Shigella flexneri: Nhóm B

- Shigella boydii: Nhóm C

- Shigella sonnei: Nhóm D.

- Shigella dysenteriae 1 (còn gọi là trực khuẩn Shiga) hay gây dịch và tử vong cao hơn các týp khác.

1.2. Độc tố.

- Shigella có nội độc tố có bản chất lipopolysaccharide, có hoạt tính sinh học giống như nội độc tố của các loài Enterobacteriaceae khác.

- Ngoài ra trực khuẩn Shiga còn tiết ra ngoại độc tố có tác dụng ức chế sự sinh tổng hợp protein, có hoạt tính như một enterotoxin. Có ý kiến cho rằng đây là nguyên nhân gây nên các triệu chứng nhiễm độc thần kinh hay gặp ở trẻ em.

- Sau khi được tiết ra, độc tố sẽ gắn dính vào cảm thụ thể bản chất là glycoprotein ở màng tế bào. Sau đó phần hoạt hoá được chuyển vào bên trong tế bào và ngăn cản sự tổng hợp protein ở phần 60S của ribosome.

2. Dịch tễ học.


Bệnh lý do Shigella có thể thấy ở khắp thế giới, vẫn còn hay gặp ở các nước có điều kiện sống thấp kém, vệ sinh cá nhân và cộng đồng kém hiệu quả.

2.1. Nguồn bệnh.

Người là vật chủ duy nhất. Người lành mang vi khuẩn, người bệnh, người đang thời kỳ hồi phục thải nhiều vi khuẩn trong phân và lây bệnh cho người xung quanh.

2.2. Đường lây truyền bệnh.

- Người bệnh không được điều trị tiếp tục thải vi khuẩn ra phân đến sáu tuần sau khi khỏi bệnh và là nguồn lây quan trọng.

- Vi khuẩn được tìm thấy rất nhiều trên các đồ dùng của người bệnh, đặc biệt là bồn vệ sinh. Vi khuẩn có thể xuyên qua giấy vệ sinh, nhiễm tay người bệnh và cấy dương tính ở tay bẩn sau nhiễm khuẩn ba giờ.

- Bệnh lây chủ yếu trực tiếp từ người sang người qua tay bẩn. Vi khuẩn nhậy cảm với sự khô ráo, nhưng sống được nhiều tháng ở nhiệt độ thích hợp trong thức ăn và nước.

- Lây gián tiếp qua trung gian như đồ dùng, thực phẩm, nước, do ruồi nhặng.

- Bệnh có thể gây dịch ở những nơi sống chật chội, điều kiện vệ sinh cá nhân kém, nguồn nước ô nhiễm, nơi có tập quán dùng phân tươi để bón hoa màu. Bệnh hay bộc phát trong các tập thể như nhà dưỡng lão, trung tâm nuôi trẻ, trường học, ký túc xá, nhà giam...

- Bệnh ngày càng được lưu ý ở những trường hợp đồng tính ái nam và là nguyên nhân dẫn đến hội chứng Gay bowell.

2.3. Cơ thể cảm thụ.

- Đối tượng hay mắc bệnh là trẻ em 1 - 4 tuổi. Nữ nhiều hơn nam.

3. Sinh bệnh học.


- Do tính chất đề kháng với acid, Shigella sau khi xâm nhập vào đường tiêu hoá, dễ dàng qua hàng rào acid của dạ dày.

- Trên người tình nguyện: Nuốt 200 vi khuẩn có thể gây bệnh ở 25% người khoẻ mạnh. Sau thời kỳ ủ bệnh 24 - 72giờ, vi khuẩn qua ruột non đến xâm nhập vào tế bào thượng bì của ruột già, tăng sinh trong nội bào gây nên phản ứng viêm cấp tính lớp niêm mạc đại tràng. Giai đoạn này tương ứng với thời kỳ tiền triệu với các triệu chứng nhiễm trùng không đặc hiệu hoặc đau bụng và đi ngoài phân lỏng.

- Sau đó, lớp tế bào thượng bì sẽ bị huỷ hoại tróc ra và tạo nên các ổ loét nông trên nền lớp niêm mạc viêm lan toả chứa nhiều chất nhầy và bạch cầu đa nhân. Giai đoạn này bệnh nhân thải rất nhiều vi khuẩn theo phân ra ngoài.

- Tổn thương lúc đầu khu trú ở đại tràng sigma và trực tràng, sau bốn ngày có thể lan đến phần trên của đại tràng; trường hợp nặng có viêm lan tỏa toàn bộ khung đại tràng, lan đến đoạn cuối hồi tràng. Tiêu chảy xuất hiện do rối loạn hấp thụ nước và điện giải bởi đại tràng viêm.

- Phản ứng viêm ở đại tràng thường nông. Riêng đối với Shigella dysenteriae 1 đôi khi có thể đưa đến vãng khuẩn huyết (Bacteremia). Thủng đại tràng thường hiếm gặp.

- ở trẻ em: nhiễm Shigella dysenteriae 1 với viêm đại tràng nặng có thể xuất hiện "Hội chứng tán huyết urê huyết cao" do vỡ hồng cầu và lắng đọng cục fibrin gây tắc mạch máu cầu thận.

- Miễn dịch thể dịch qua nhiễm Shigella có vai trò quan trọng, chủ yếu là loại IgA.

4. Lâm sàng


4.1. Thời kỳ ủ bệnh:
Không có biểu hiện lâm sàng. Thường kéo dài 12 - 72 giờ (trung bình 1 - 5 ngày)

4.2. Thời kỳ khởi phát

- Đột ngột với các triệu chứng không đặc hiệu:

+ Hội chứng nhiễm trùng: Sốt cao 39 – 40oC đột ngột, thường kèm theo ớn lạnh, đau nhức cơ toàn thân, mệt mỏi biếng ăn, buồn nôn hoặc nôn mửa. ở trẻ nhỏ có thể co giật do sốt cao.

+ Triệu chứng tiêu hoá: Khởi đầu là tiêu chảy phân lỏng hoặc tiêu toàn nước vàng, kèm theo đau bụng có thể dẫn đến mất nước và điện giải nặng, suy thận cấp, nhưng thường không đến mức đe doạ tính mạng trừ ở trẻ quá nhỏ và người già.

- Giai đoạn này kéo dài một đến ba ngày.

4.3. Thời kỳ toàn phát.

Bệnh diễn tiến thành bệnh cảnh lỵ đầy đủ với:

- Đi ngoài phân nhầy, nhiều lần, lượng phân càng lúc càng ít dần. Trường hợp nặng có thể đến 20 - 40 lần/ngày.

- Mót rặn nhiều, ngày càng tăng, đau thắt ở vùng trực tràng, có thể dẫn đến sa trực tràng ở người già, suy kiệt.

- Đau bụng quặn từng cơn, nhưng thường giảm sau vài ngày. Thể trạng suy sụp nhanh chóng, người mệt mỏi, hốc hác, môi khô, lưỡi vàng bẩn.

- Khám bụng thường thấy đau rõ ở nửa dưới bụng bên trái, vùng đại tràng sigma, hoặc đau toàn bộ khung đại tràng.

4.4. Diễn biến và các thể lâm sàng.

Thông thường sau một đến hai tuần không điều trị bệnh cũng cải thiện dần. Tuy nhiên, bệnh cảnh lâm sàng có khi rất khác nhau như:

- Có thể nặng và cấp với sốt cao, lạnh run, tiêu chảy ồ ạt, rối loạn nước điện giải, suy tuần hoàn, tử vong; thường là do nhiễm Shigella dysenteriae 1.

- Có thể nhẹ (thường là do nhiễm S. sonnei) với tiêu chảy nhẹ hoặc không triệu chứng rõ, chỉ có đau bụng âm ỉ, tiêu phân lỏng thoáng qua sau đó tự khỏi.

- Thể mạn tính: bệnh nhân đi ngoài mũi máu kéo dài làm mất nhiều đạm, rối loạn nước điện giải kéo dài, suy kiệt.

- Ở trẻ em 1-4 tuổi thường bệnh cấp tính với sốt rất cao kèm co giật, biểu hiện thần kinh như li bì, lơ mơ, đau đầu, cổ cứng. Một số trường hợp có thể tử vong do hội chứng tán huyết urê huyết cao hoặc sốc nội độc tố.

5. Cận lâm sàng.


5.1. Công thức máu:
ít có giá trị chẩn đoán.

- Bạch cầu thường tăng trong khoảng 5.000 - 15.000/mm2 với tăng tỷ lệ đa nhân trung tính. Có thể đến 30.000/mm3.

5.2. Xét nghiệm phân:
Có giá trị quan trọng và cần thiết để chẩn đoán. Xét nghiệm phân gồm có:

- Soi phân tươi: Xem đại thể: trường hợp nặng thấy phân lỏng có nhiều nhầy mủ lẫn máu, soi sẽ thấy rất nhiều hồng cầu, bạch cầu đa nhân.

- Cấy phân: Do tính chất kháng thuốc qua trung gian plasmid vi khuẩn ngày càng kháng với các kháng sinh thông thường nên cần phải làm kháng sinh đồ (KSĐ).

5.3. Soi trực tràng

- Thấy hình ảnh viêm lan toả cấp tính niêm mạc, có nhiều vết loét nông đường kính 3-7mm, có thể xuất huyết chỗ loét và cần lấy chất nhầy tại chỗ loét để tìm vi khuẩn.

5.4. Huyết thanh chẩn đoán:
ít có giá trị trên thực tế.

- Phương pháp miễn dịch huỳnh quang trực tiếp: Trên thực tế chỉ dùng huyết thanh đơn giá để chẩn đoán bệnh nhanh khi có dịch ở địa phương do một týp huyết thanh đ• biết trước.

- Phản ứng ngưng kết: Phát hiện kháng thể trong huyết thanh nhưng không có giá trị chẩn đoán sớm.

6. Biến chứng


- Thường ít xảy ra, ngay cả trong trường hợp không được điều trị, trừ ở người già và trẻ em nhỏ.

6.1. Biến chứng sớm

- Sốc do mất nước và điện giải.

- Thủng ruột già ở cơ địa suy kiệt.

- Sa trực tràng hay gặp ở người già.

- Nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram âm (thường là E. coli).

- Viêm màng não, viêm phổi, viêm tuyến mang tai, viêm thần kinh ngoại biên, hội chứng tán huyết urê huyết cao.

6.2. Biến chứng muộn

- Suy dinh dưỡng, phù nề toàn thân do mất đạm kéo dài.

- Viêm khớp gối, mắt cá chân.

- Hội chứng Reiter ở người có HLA-B27 dương tính.

7. Điều trị


7.1. Bồi phụ nước điện giải

- Cần được thực hiện như các trường hợp tiêu chảy khác với dung dịch ORS uống sớm, hoặc dịch truyền nếu mất nước điện giải nặng.

7.2. Kháng sinh

- Có vai trò rút ngắn thời gian bệnh và giảm ngắn thời gian thải vi khuẩn ra phân. Các loại kháng sinh đang được dùng là:

- Ampicillin 2g/ngày, chia làm bốn lần x 5 ngày, ở trẻ em 100mg/kg/ngày, chia bốn lần.

- Trimethoprim + Sulfamethoxazole (viên 80mg + 400mg) x 2viên x 2lần/ngày x 5 ngày cho người lớn. Hoặc 48mg/kg chia 2 lần/ngày cho trẻ em.

- Hiện nay, tỉ lệ vi khuẩn kháng hai loại kháng sinh trên ngày càng tăng. Trường hợp này có thể dùng: Quinolone thế hệ thứ ba như (không dùng cho trẻ em):

+ Ciprofloxacine 500mg x 2 lần/ngày hoặc

+ Pefloxacine 400mg x 2 lần/ngày hoặc

+ Ofloxacine 200mg x 2 lần/ngày.

- Một số thuốc có tác dụng in vitro nhưng không có tác dụng in vivo như Amoxicilline, Neomycine, Kanamycine.

7.3. Điều trị triệu chứng

- Các thuốc làm giảm nhu động ruột có thể làm cải thiện triệu chứng nhưng không nên sử dụng vì làm kéo dài thời gian bệnh và làm chậm thải trừ vi khuẩn.

8. Tiên lượng


- Tỷ lệ tử vong tuỳ theo cơ địa bệnh nhân và tuỳ dòng Shigella gây bệnh. ở các dịch do S. dysenteriae 1 tử vong 10-30%. S. sonnei chỉ gây tử vong 1%.

- Nếu được điều trị thích hợp và sớm, tử vong có thể giảm đến 0%.

- 2% bệnh nhân có xuất hiện viêm khớp, hội chứng Reiter nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau hồi phục.

9. Phòng bệnh.


Hoá dự phòng cho số đông trong vùng dịch kém hiệu quả, lại gây nguy cơ tạo các chủng kháng thuốc. Người là nguồn lây duy nhất. Do việc phòng bệnh nhằm vào ba vấn đề chủ yếu:

- Vệ sinh thực phẩm, vệ sinh ăn uống, và vệ sinh nước: Cần rửa tay cẩn thận trước khi ăn và chế biến thực phẩm. Sử dụng nước sạch. Xử lý nước thải hợp vệ sinh. Diệt ruồi nhặng. Kiểm tra vệ sinh các loại thức uống và thức ăn chế biến sẵn.

- Phát hiện và cách ly người bệnh. Khử khuẩn chất thải của người bệnh.

- Kiểm tra phát hiện và điều trị người lành mang trùng, người nhiễm trùng nhẹ, nhất là nhân viên trong các khâu chế biến và phân phối thực phẩm.

PGS. TS Nguyễn Đức Hiền (Viện YHLS bệnh Nhiệt đới QG)
Đăng tải trên: http://benh.vn


Tổng quan về Salmonella và các biện pháp phòng ngừa.


Bên dưới là thông tin về Salmonella, nguồn gốc lây nhiễm và cách thức phòng ngừa theo khuyến cáo của Ban Y tế & Sức khỏe Úc Châu.



30% thịt heo, gà tại HCM bị nhiễm vi khuẩn Salmonella


Giám sát với 3.929 mẫu

Cố vấn trưởng Dự án SIESAF – ông Nakaniwa Hiroshi chia sẻ: "Dự án tăng cường năng lực hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm (ATTP) nông, thủy sản có thời gian từ tháng 12.2011 – 11.2014. Mục đích chính của dự án là hỗ trợ cải thiện ATTP nông thủy sản thông qua xây dựng và thực hiện các chương trình giám sát quốc gia về ATTP”. Trong 1 năm triển khai từ 5.2013 – 4.2014 cơ quan thực hiện đã lấy 3.929 mẫu giám sát với chỉ tiêu giám sát bao gồm: Vi sinh vật gây bệnh (Salmonella), độc tố vi nấm (Aflatoxin), thuốc bảo vệ thực vật – BVTV (71 hoạt chất), thuốc thú y (nhóm Beta agonist, Tetracyclines; Quinolone) và Histamin.

Vi khuẩn Salmonella(ảnh wikipedia.org)

Tại TP.Hồ Chí Minh sau khi lấy 1.618 giám sát tại chợ đầu mối Bình Điên, Hóc Môn, Thủ Đức và đại lý gạo, điều, cơ quan giám sát chia ra các nhóm sản phẩm được lấy mẫu gồm: Thịt gà, thịt heo, rau ăn lá (muống, cải), cá biển (thu, ngừ, nục), rau ăn quả (cà chua, đậu đỗ) và gạo, hạt điều. Trong đó thịt heo phát hiện Salmonella trong 71/231 mẫu kiểm nghiệm (chiếm 30,74%), thịt gà phát hiện Salmonella trong 105/231 mẫu kiểm nghiệm (chiếm 45,45%). Ngoài ra, chương trình giám sát còn phát hiện 11/234 mẫu rau ăn lá có dư lượng thuốc BVTV vượt giới hạn cho phép (chiếm 4,7%); phát hiện 11/129 mẫu rau ăn quả có dư lượng thuốc BVTV. Riêng đối với cà chua và rau cải cơ quan kiểm nghiệm còn phát hiện thuốc BVTV cấm sử dụng Methamidophos. Với mẫu gạo kết quả giám sát cũng phát hiện dư lượng thuốc BVTV (tỷ lệ 7,79%) và mẫu cá biển có 13/231 mẫu kiểm nghiệm có Samonella.

Với tổng số 693 mẫu lấy tại một số chợ kinh doanh lớn, tập trung ở Cần Thơ như: Cái Khế, Xuân Khánh, Ô Môn, Tân An và Thốt Nốt cho kết quả như sau: Đối với mẫu thịt heo, thịt gà không phát hiện thấy các hóa chất, nhóm kháng sinh cấm. Tuy nhiên kết quả mẫu cá nước ngọt, cơ quan giám sát đã phát hiện dư lượng kháng sinh cấm sử dụng và dư lượng kháng sinh hạn chế sử dụng vượt giới hạn cho phép trong 27/231 mẫu chủ yếu là cá lóc, cá rô (chiếm 11,69%).

Nguồn: dantri.com.vn


E.coli

E.coli là gì?


E.coli (Escherichia coli) là vi sinh vật hiện diện trong đường ruột của người và các loài động vật máu nóng. Hầu hết các dòng E.coli không gây hại và đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định sinh lý đường ruột. Tuy nhiên có 4 dòng E.coli có thể gây bệnh cho người và một số loài động vật là Enteropathogenic E.coli, Enterotoxigenic E.coli, Enteroinvasive E.coli và Enterohaemorrhagic E.coli hay còn gọi là E.coli O157:H7.

Chúng ta thường gặp E.coli ở đâu?


Các loài E.coli hiện diện rộng rãi trong môi trường bị ô nhiễm phân hay chất thải hữu cơ, phát triển và tồn tại rất lâu trong môi trường. Gần đây, người ta còn chứng minh được rằng E.coli cũng hiện diện ở những vùng nước ấm không bị ô nhiễm chất hữu cơ.

Thực phẩm bị nhiễm E.coli như thế nào?


Do sự phân bố rộng rãi trong tự nhiên như vậy nên E.coli dễ dàng bị nhiễm vào thực phẩm từ nguyên liệu hay thông qua nguồn nước trong quá trình sản xuất, chế biến.

Biểu hiện khi bị nhiễm E.coli?


Các dòng E.coli gây bệnh gây ra các triệu chứng rối loạn đường tiêu hoá. Biểu hiện lâm sàng thay đổi từ nhẹ đến rất nặng, có thể gây ra chết người phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm, dòng gây nhiễm và khả năng đáp ứng của từng người.

Tiêu chảy ra máu là triệu chứng chính của nhiễm E.coli. Người bị nhiễm cũng có thể cảm thấy đau thắt bao tử và nôn ói. Triệu chứng chính thường bắt đầu 3 hay 4 ngày sau khi bị phơi nhiễm vi khuẩn E.coli. Phần lớn bệnh nhân hồi phục sau vài ngày hay một tuần sau khi mắc bệnh. Tuy nhiên cũng có thể có nhiều người bị nhiễm mà không có triệu chứng và không mắc bệnh.

Khi bệnh nhân bị nhiễm E. coli nghiêm trọng (tức có thể làm rối loạn máu và suy thận), một số biểu hiện có thể dễ nhận thấy như:
- Da xanh xao
- Cảm lạnh
- Cảm thấy yếu cơ
- Xuất hiện những vết thâm tím trên người
- Đi tiểu rất ít nước tiểu

Phát hiện E.coli bị nhiễm trong thực phẩm và trong nước bằng cách nào?


Nước và thực phẩm bị nhiễm E.coli chẳng có biểu hiện gì đặc biệt nên rất khó mà biết nước uống và thức ăn mà chúng ta dùng hàng ngày có bị nhiễm E.coli hay không? Thông thường, để phát hiện thực phẩm hay nước bị nhiễm E.coli phải thực hiện các thí nghiệm. Các thí nghiệm này được thực hiện rất phổ biến tại các cơ sở cung cấp dịch vụ phân tích thí nghiệm. Chi phí thực hiện cũng tương đối thấp.

Tiêu diệ E.coli bằng cách nào?


- Nấu chín thực phẩm ở nhiệt độ tối thiểu 70 oC từ 15 giây trở lên có thể hoàn toàn tiêu diệt được E.coli
- Các loại hóa chất khử trùng cũng có thể có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt loại vi khuẩn gây bệnh này

Nguồn: internet