Showing posts with label Vệ sinh. Show all posts

Tiêu chuẩn vi sinh cho không khí sạch

Tiêu chuẩn vi sinh trong không khí

Điện thoại di động của bạn dơ như thế nào?

Theo một nghiên cứu năm 2013 của Đại học Standford, chiếc điện thoại thông minh của bạn có thể bẩn hơn cả bồn cầu tại các nhà vệ sinh công cộng. Sự thật này có thể khiến nhiều người cảm thấy hãi hùng khi hàng ngày, họ vẫn thường xuyên đặt nó lên mặt để nghe, gọi.
Điện thoại di động của bạn dơ như thế nào? Theo nghiên cứu này, số lượng vi khuẩn trên một inch vuông của smartphone là 25.107, gấp 18 lần so với một inch vuông của bồn cầu nhà vệ sinh công cộng (1.201), gấp 14 lần bề mặt bếp ga (1.736 con vi khuẩn trên mộtt inch vuông) và gần 12 lần so với đĩa đựng thức ăn của các con thú cưng trong gia đình (2.110 con vi khuẩn trên một inch vuông).

Một nghiên cứu khác còn chỉ ra rằng, 1/6 những chiếc smartphone hiện nay bị dính một loại vật chất có liên quan đến phân.

Trên thực tế, smartphone là một trong những vùng hoạt động phổ biến nhất của các loại vi khuẩn. Đó cũng là nơi chúng dễ dàng tiếp xúc với con người nhất, chỉ đứng sau tay nắm cửa, giỏ hàng tạp hóa và đế giày của bạn.

Tại sao? Sự ấm áp của những chiếc điện thoại thông minh chính là một môi trường hoàn hảo để mầm bệnh sinh trưởng và phát triển, bởi chúng luôn được giữ ấm áp bên trong túi hoặc ví của bạn. Gần như bất cứ nơi nào bạn có mặt, từ trường học, công sở, cho đến nhà tắm, nhà vệ sinh, bạn đều mang theo smartphone, giúp vi khuẩn ở những nơi đó có cơ hội tìm đến chiếc smartphone của bạn.

iPhone hoặc điện thoại Android, đặc biệt là màn hình của chúng, được coi như một thỏi nam châm, thu hút hàng nghìn các loại vi khuẩn mới mỗi khi bạn chạm vào vật gì đó, sau đó chạm vào màn hình máy. Do đó, khi đưa smartphone lên mặt, bạn có thể tạo cơ hội cho hàng triệu smartphone tiếp xúc với mặt mình.

Dưới đây là một số cách đơn giản để bảo vệ chiếc điện thoại của bạn:

1. Lau sạch mỗi ngày: Hãy lau sạch chiếc smartphone của bạn mỗi ngày bằng một loại nước lau rửa không ăn mòn chuyên dụng. Tìm đến các cửa hàng bán đồ điện tử và họ sẽ đưa ra lựa chọn giúp bạn.

2. Chú ý đến bàn phím: Nếu smartphone của bạn có bàn phím vật lý, hãy cố gắng làm sạch nó. Bạn nên bắt đầu làm sạch bằng một miếng gạc bằng cotton, nhúng với rượu pha loãng để vệ sinh. Hãy đảm bảo bạn không chà sát quá mạnh và không để rượu lọt vào bên trong điện thoại.

3. Rửa tay thường xuyên: Đây là một gợi ý có vẻ thừa nhưng bàn tay bẩn thỉu của bạn chính là con đường nhanh nhất đưa vi khuẩn đến với chiếc smartphone. Nhưng nên nhớ, việc bạn rửa tay sẽ là vô dụng nếu không vệ sinh chiếc smartphone của mình thường xuyên trước

Nguồn: zing.vn

Khăn tắm của bạn có sạch không?

Khoảnh khắc bạn sử dụng khăn tắm cũng là lúc vật dụng này trở thành nơi cư trú của vi khuẩn, nấm, da chết, cùng rất nhiều loại vi khuẩn và chất bẩn khác có sẵn trong phòng tắm, bao gồm cả... nước tiểu và phân.
Khăn tắm của bạn có sạch không? Theo Philip Tierno - nhà vi khuẩn và bệnh lý học thuộc khoa Y ĐH New York - thì hầu hết số vi khuẩn này sẽ không gây hại, vì chúng đến từ cơ thể chúng ta. Tuy nhiên, sự thật kinh khủng là chúng sẽ sinh sản với tốc độ chóng mặt. Một số thống kê cho thấy trong điều kiện thích hợp, một con vi khuẩn có thể sinh sôi thành 1 tỉ cá thể chỉ trong vòng 10h đồng hồ.

Trong khi đó, khăn tắm sau khi sử dụng lại chính là nơi ở hội tụ đủ điều kiện giúp mọi loài vi khuẩn phát triển: độ ẩm cao, nhiệt độ ấm, oxy, dinh dưỡng, và cả độ cân bằng pH tự nhiên. Tất cả những điều kiện này đều đến từ cơ thể người.

Các chuyên gia cho biết, dù bạn có tắm thường xuyên, sau đó cả ngày không làm gì, cơ thể bạn vẫn luôn "bẩn". Đó là do cơ thể chúng ta thay thế tới hàng ngàn tế bào da mỗi ngày, tạo thành da chết hay còn gọi là ghét bẩn. Đây chính là nguồn dinh dưỡng tuyệt vời cho sự phát triển của vi khuẩn.

Vậy tối đa bạn có thể sử dụng khăn tắm bao nhiêu lần trước khi số lượng vi khuẩn trở nên kinh hoàng như vậy. Tiến sĩ Tierno cho biết: "Nếu sau mỗi lần sử dụng bạn đều phơi khô tuyệt đối, thì tối đa là... 3 lần sử dụng".

Và đó là chỉ tính trong trường hợp bạn phơi khăn tắm ở nơi thoáng mát. Nếu bạn phơi khăn tắm ở nơi có độ ẩm cao như ngay tại chính phòng tắm của bạn, khả năng cao là chỉ sau một lần sử dụng, khăn tắm sẽ "bốc mùi". Theo Tierno: "Nếu khăn tắm có mùi tức là có vi khuẩn đang sinh sôi và sẽ cần được giặt ngay lập tức".

Tuy nhiên bên cạnh đó, dù phần lớn vi khuẩn này có thể không gây hại cho bạn vì cơ thể bạn đã quen với chúng, nhưng nếu bạn dùng chung khăn tắm, bạn có thể phải tiếp nhận những vi khuẩn mà cơ thể chưa từng tiếp cận - như tụ khuẩn cầu vàng (Staphylococcus aureus) - gây giảm sức đề kháng của chúng ta.

Nguồn: kenh14.vn

Cải tiến cắt giảm thời gian vệ sinh

Vệ sinh là một trong những hoạt động cần thiết tại các xưởng sản xuất, bảo trì. Việc làm thế nào để có thể cắt giảm thời gian và công sức vệ sinh đôi khi lại không đơn giản chút nào. Có thể chưa phải là cách tốt nhất nhưng sơ đồ dưới đây có thể giúp bạn phần nào trong việc cắt giảm thời gian vệ sinh.
Cải tiến giảm thời gian vệ sinh

Giun tấn công não

Một khi xâm nhập cơ thể, giun sán có thể di chuyển khắp nơi - từ mắt, tế bào và thậm chí xông thẳng vào não. Chúng đẩy giới bác sĩ vào tình trạng bối rối khi phát hiện quá trình di cư bất hợp pháp của giun và bắt đầu hút chất dinh dưỡng từ cơ thể người. Tuy nhiên, trường hợp tệ nhất là giun có thể chui vào não. “Nó đi từ bán cầu não này sang bán cầu não khác... rất hiếm khi có thứ gì di chuyển trong não”, theo Đài CNN dẫn lời bác sĩ Effrossyni Gkrania-Klotsas kể về trường hợp một bệnh nhân Anh bị phát hiện chứa sán dây trong đầu vào năm 2013.
Hình ảnh cho thấy giun làm tổ trong não

Đây là lần đầu tiên sán sơ mít xuất hiện tại Anh. Cách đó 4 năm, người này nhập viện vì đau đầu, và các bác sĩ ở Bệnh viện Addenbrookes tại Cambridge tiến hành điều trị lao cho đối tượng. Khi nhập viện lần nữa, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng mới, như co giật và chân yếu đi. Lúc này bác sĩ không thể tin vào mắt mình khi chứng kiến một con vật lạ đang ngo ngoe trong não bệnh nhân. Hóa ra bệnh nhân đã nhiễm sán dây và phương pháp duy nhất là phẫu thuật não để trục xuất ký sinh trùng. Chỉ có khoảng 300 trường hợp nhiễm sán dây được ghi nhận trên thế giới từ năm 1953 đến 2013, đa phần ở châu Á và đa số ở nông thôn, có nghĩa là con số trên thực tế có thể cao hơn nhiều. Y học ít có thông tin về tình trạng giun sán, giống như nhà di truyền học Hayley Bennett thuộc Viện Sanger của Quỹ Wellcome ở Cambridge thừa nhận: “Những loài giun này khá bí ẩn. Chúng tôi chỉ biết chúng có chu kỳ sống hết sức phức tạp”. Dạng trưởng thành của sán dây chỉ xuất hiện trong ruột chó, mèo, nhưng trứng giun có thể nhiễm vào nước từ chất thải. Kết quả là dạng ấu trùng của giun sán có thể bám vào các loài giáp xác nhỏ hoặc ếch, rắn. Ở dạng này, chúng có thể tấn công người qua quá trình ăn uống hoặc tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm giun. Bệnh nhân ở Cambridge được cho là đã lỡ uống nước khi bơi trong hồ có ấu trùng giun. Từ đó, ấu trùng tấn công thẳng đến não bộ hoặc hoành hành đâu đó trong cơ thể. Hậu quả của tình trạng này có thể phát triển từ tổn hại mô, gây mù lòa, liệt hoặc thậm chí tử vong, theo chuyên gia Bennett.

Có nhiều loại sán dây, nhưng 3 trong số đó có thể chiếm cứ bộ não. Chuyên gia Helena Helmby của Trường Sức khỏe và y nhiệt đới London cảnh báo về sự nguy hiểm của sán dải heo, tên khoa học là Taenia Solium. Nó có thể lây nhiễm ở người qua 2 con đường, một là ăn thịt heo mang mầm bệnh chưa nấu chín, và sán trưởng thành sẽ phát triển trong ruột; thứ hai là dạng ấu trùng khi tiếp xúc với phân nhiễm sán. Nếu ấu trùng xâm nhập vào hệ thần kinh, bao gồm não, nó có thể gây ra tình trạng nhiễm ấu trùng sán dải heo ở não. Nhiễm sán dạng này thường gây ra động kinh, và gần 1/3 số trường hợp động kinh ở những nước phổ biến nạn sán, như tại Nam Mỹ, châu Phi và châu Á, đều bị tình trạng nhiễm ấu trùng sán dải heo ở não, theo Tổ chức Y tế thế giới.

Có thể dùng thuốc tẩy giun cư trú trong ruột, nhưng khi lên đến não thì chỉ còn cách phẫu thuật. Do nhiễm sán ở não không phổ biến, nên các hãng dược không điều chế thuốc trị giun lên não. Với việc chuỗi gien di truyền của sán, nhóm chuyên gia Bennett hy vọng có thể tìm hiểu cơ chế hoạt động của chúng để hỗ trợ chẩn đoán và điều trị trong tương lai, bao gồm sử dụng thuốc hiện có trên thị trường để trị giun não.

Nguồn: thanhnien.com.vn

Bàn tay người

Hãy cẩn thận với bàn tay của bạn

Đây chính là lý do tại sao bạn cần rửa tay thật sạch!

Viêm gan A lây lan như thế nào?

Viêm gan A là bệnh dễ dàng lây qua đường tiêu hóa, khi ăn phải thực phẩm bẩn chứa vi rút gây bệnh. Không chỉ 13 trường hợp tại Úc nhiễm bệnh do ăn hoa quả bẩn mà ở Việt Nam, nhiều ổ dịch viêm gan A đã xảy ra do tập quán sinh hoạt chưa khoa học của người dân. Virus gây viêm gan A (HAV) lây truyền từ người qua người theo đường phân, miệng: virus đi từ phân của người mắc bệnh vào thức ăn đồ uống và người lành tiếp xúc với virus qua thức ăn đồ uống đã bị nhiễm. Điều này cho thấy việc lây truyền viêm gan A liên quan đến vấn đề vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm và vệ sinh môi trường. Trái cây hay thực phẩm vì lý do nào đó bị vấy bẩn từ phân của người có vi rút viêm gan A (ví như nhiễm vào nước rửa, ô nhiễm nguồn nước và dùng nguồn nước này để ngâm trái cây, chế biến thực phẩm... khi ăn phải nó sẽ bị nhiễm).

Nguồn: http://giadinh.net.vn

Bệnh dịch: Đừng xem thường!

Năm 1918, một trận đại dịch cúm đã khiến 500 triệu người bị nhiễm và giết chết khoảng 3 đến 5% dân số toàn cầu. Đó là một trong những thiên tai nguy hiểm nhất trong lịch sử vì chỉ trong 25 tuần đã có 25 triệu người chết. Nó là dịch bệnh đứng đầu bảng xếp hạng các trận dịch bệnh trong 100 năm qua.

Thế kỷ 14 đã có một trận đại dịch khủng khiếp nhất trong lịch sử văn minh với 200 triệu người bị chết vì dịch hạch. Nó được cho là do bọ chét ở bàn chân của những con chuột châu Á và chuột đen đi theo các thuyền buôn. Trận dịch này đã làm dân số châu Âu giảm đi một nửa và làm dân số toàn thế giới giảm đi rõ rệt trong thế kỷ 14.

Nguồn: baomoi.com

10 ký sinh trùng đáng sợ đang ẩn nấp trong cơ thể bạn


Nguồn: khoahoc.com.vn

Cách vi khuẩn lây nhiễm từ toilet đến miệng người!

Bạn có thể nhìn thấy bàn làm việc của mình trông tương đối sạch sẽ. Tuy nhiên, một đoạn video mới công bố hé lộ, chiếc bàn làm việc đó có thể tràn ngập những vi khuẩn vô hình trước mắt thường, có nguồn gốc từ nhà vệ sinh và dễ dàng lây lan tới tay cũng như miệng của bạn với tốc độ nhanh đến kinh ngạc.

Trước thực tế là 1/4 số nhân viên văn phòng đã không rửa tay đủ và đúng cách sau khi đi vệ sinh, mọi thứ ở chốn công sở, từ cánh cửa tới bàn phím và chuột máy tính có thể bị hàng triệu vi khuẩn bao phủ.

Để tránh bị ốm, các chuyên gia đã đưa ra khuyến nghị về những cách tốt nhất nhằm giúp chúng ta tiếp nhận càng ít vi khuẩn càng tốt.

Giáo sư, tiến sĩ Lisa Ackerley đến từ Hiệp hội sức khỏe cộng đồng Hoàng gia Anh, đã lên tiếng cảnh báo về "hiệu ứng hắt hơi" khi giật nước bồn cầu. Theo chuyên gia này, không đậy nắp bồn cầu trước khi giật nước đồng nghĩa, vi khuẩn từ bồn cầu sẽ bị bắn tung tóe và phát tán khắp buồng vệ sinh. Do đó, những vi khuẩn này có thể đáp xuống bệ ngồi bồn cầu, giấy vệ sinh và bao phủ các bề mặt ở cách xa tới 20 bước chân, kể cả đôi tay của người.

Bà Ackerley cho biết, để chống lại "hiệu ứng hắt xì hơi", chúng ta cần sử dụng nước tẩy bồn cầu kháng khuẩn.

Thông thường, sau mỗi lần đi vệ sinh, chúng ta có khoảng 200 triệu vi khuẩn trên mỗi 6,5cm2 diện tích da của bàn tay. Và đôi bàn tay mang vi trùng có thể lan truyền những vi sinh vật này tới 5 bề mặt nữa hoặc 14 vật thể khác.

Trong thực tế, các nhà nghiên cứu Mỹ phát hiện, khi cho nhiễm khuẩn chỉ một nắm đấm cửa hoặc mặt bàn bằng một loại virus đánh dấu vô hại, nó đã lan khắp một tòa nhà văn phòng, khách sạn hoặc cơ sở chăm sóc y tế rất nhanh, chỉ trong vòng 2 - 4 giờ đồng hồ.

Tiến sĩ Ackerley giải thích: "Chúng ta đã biết từ kết quả các nghiên cứu rằng, các vi sinh vật có thể tồn tại với số lượng đông đảo, lên tới 3.000 cá thể mỗi 6,5cm2 trên bàn phím máy tính và hơn 1.600 cá thể trên một con chuột máy tính. Trong thời gian một ngày, bạn có thể "dính" phải các vi khuẩn này và sau đó, bạn đột nhiên muốn ăn trưa tại bàn làm việc mà không rửa tay trước tiên, nên về cơ bản, bạn đã vận chuyển chúng vào miệng của mình".

16% mọi người được phát hiện đang mang norovirus - loại vi trùng gây nôn mửa và tiêu chảy, nhưng không bộc lộ triệu chứng. Vì vậy, dù họ có cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh, họ vẫn đang mang mầm bệnh đó đi đây đó và phát tán chúng khắp chốn công sở.

Bà Ackerley đề xuất việc sử dụng dung dịch rửa tay (sản phẩm khử trùng tay không cần dùng kèm nước) sau khi rời nhà vệ sinh và trong ngày. "Điều này đồng nghĩa, nếu ai đó quên rửa tay, họ sẽ không nhiễm vi trùng và sau đó phát tán nó khắp nơi làm việc", bà Ackerley nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo bà Ackerley, cách hữu hiệu nhất để ngăn nhiễm trùng ở công sở vẫn là rửa tay bằng xà phòng với nước. Chúng ta có thể giảm tới gần một nửa số bệnh nhiễm trùng chỉ đơn giản nhờ rửa tay nghiêm chỉnh. Chỉ 20 giây rửa tay đúng cách có thể ngăn sự lây lan của vi khuẩn từ bồn cầu.

Tiến sĩ Ackerley lưu ý thêm rằng, việc đảm bảo đôi bàn tay khô ráo sau khi rửa cũng rất quan trọng. Điều này là vì, các vi trùng được phát hiện dễ lan truyền sang các bề mặt khác hơn nếu chúng ẩm ướt.


Nguồn: khoahoc.com.vn

Bệnh truyền nhiễm do trực khuẩn lỵ shigella


- Nhiễm Shigella là bệnh lý viêm nhiễm cấp tính ở đường tiêu hoá do trực khuẩn Shigella gây nên.

- Biểu hiện bệnh lý thay đổi từ thể tiêu chảy phân nước nhẹ cho đến các thể nặng nề với đau bụng quặn, mót rặn, tiêu phân nhày máu, sốt và dấu hiệu nhiễm trùng nhiễm độc.

- Shigella còn gây các biểu hiện bệnh lý ở ngoài đường tiêu hoá như viêm kết mạc, viêm âm đạo, viêm phổi, viêm khớp, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết...

- Biểu hiện ở đường tiêu hoá thường tự khỏi trong vài ngày. Dùng kháng sinh sớm có tác dụng giúp hồi phục sớm và rút ngắn thời gian thải vi khuẩn ra phân.

1. Tác nhân gây bệnh.


Năm 1897: Shigella được Shiga đầu tiên xác định là nguyên nhân gây lỵ.

1.1. Đặc điểm vi khuẩn.

- Shigella là trực khuẩn Gram âm không di động, thuộc họ Enterobateriaceae. Dựa vào đặc điểm kháng nguyên thân O và các đặc tính sinh hoá, người ta chia làm 4 nhóm chính: A, B, C, D như sau :

- Shigella dysenteriae:Nhóm A

- Shigella flexneri: Nhóm B

- Shigella boydii: Nhóm C

- Shigella sonnei: Nhóm D.

- Shigella dysenteriae 1 (còn gọi là trực khuẩn Shiga) hay gây dịch và tử vong cao hơn các týp khác.

1.2. Độc tố.

- Shigella có nội độc tố có bản chất lipopolysaccharide, có hoạt tính sinh học giống như nội độc tố của các loài Enterobacteriaceae khác.

- Ngoài ra trực khuẩn Shiga còn tiết ra ngoại độc tố có tác dụng ức chế sự sinh tổng hợp protein, có hoạt tính như một enterotoxin. Có ý kiến cho rằng đây là nguyên nhân gây nên các triệu chứng nhiễm độc thần kinh hay gặp ở trẻ em.

- Sau khi được tiết ra, độc tố sẽ gắn dính vào cảm thụ thể bản chất là glycoprotein ở màng tế bào. Sau đó phần hoạt hoá được chuyển vào bên trong tế bào và ngăn cản sự tổng hợp protein ở phần 60S của ribosome.

2. Dịch tễ học.


Bệnh lý do Shigella có thể thấy ở khắp thế giới, vẫn còn hay gặp ở các nước có điều kiện sống thấp kém, vệ sinh cá nhân và cộng đồng kém hiệu quả.

2.1. Nguồn bệnh.

Người là vật chủ duy nhất. Người lành mang vi khuẩn, người bệnh, người đang thời kỳ hồi phục thải nhiều vi khuẩn trong phân và lây bệnh cho người xung quanh.

2.2. Đường lây truyền bệnh.

- Người bệnh không được điều trị tiếp tục thải vi khuẩn ra phân đến sáu tuần sau khi khỏi bệnh và là nguồn lây quan trọng.

- Vi khuẩn được tìm thấy rất nhiều trên các đồ dùng của người bệnh, đặc biệt là bồn vệ sinh. Vi khuẩn có thể xuyên qua giấy vệ sinh, nhiễm tay người bệnh và cấy dương tính ở tay bẩn sau nhiễm khuẩn ba giờ.

- Bệnh lây chủ yếu trực tiếp từ người sang người qua tay bẩn. Vi khuẩn nhậy cảm với sự khô ráo, nhưng sống được nhiều tháng ở nhiệt độ thích hợp trong thức ăn và nước.

- Lây gián tiếp qua trung gian như đồ dùng, thực phẩm, nước, do ruồi nhặng.

- Bệnh có thể gây dịch ở những nơi sống chật chội, điều kiện vệ sinh cá nhân kém, nguồn nước ô nhiễm, nơi có tập quán dùng phân tươi để bón hoa màu. Bệnh hay bộc phát trong các tập thể như nhà dưỡng lão, trung tâm nuôi trẻ, trường học, ký túc xá, nhà giam...

- Bệnh ngày càng được lưu ý ở những trường hợp đồng tính ái nam và là nguyên nhân dẫn đến hội chứng Gay bowell.

2.3. Cơ thể cảm thụ.

- Đối tượng hay mắc bệnh là trẻ em 1 - 4 tuổi. Nữ nhiều hơn nam.

3. Sinh bệnh học.


- Do tính chất đề kháng với acid, Shigella sau khi xâm nhập vào đường tiêu hoá, dễ dàng qua hàng rào acid của dạ dày.

- Trên người tình nguyện: Nuốt 200 vi khuẩn có thể gây bệnh ở 25% người khoẻ mạnh. Sau thời kỳ ủ bệnh 24 - 72giờ, vi khuẩn qua ruột non đến xâm nhập vào tế bào thượng bì của ruột già, tăng sinh trong nội bào gây nên phản ứng viêm cấp tính lớp niêm mạc đại tràng. Giai đoạn này tương ứng với thời kỳ tiền triệu với các triệu chứng nhiễm trùng không đặc hiệu hoặc đau bụng và đi ngoài phân lỏng.

- Sau đó, lớp tế bào thượng bì sẽ bị huỷ hoại tróc ra và tạo nên các ổ loét nông trên nền lớp niêm mạc viêm lan toả chứa nhiều chất nhầy và bạch cầu đa nhân. Giai đoạn này bệnh nhân thải rất nhiều vi khuẩn theo phân ra ngoài.

- Tổn thương lúc đầu khu trú ở đại tràng sigma và trực tràng, sau bốn ngày có thể lan đến phần trên của đại tràng; trường hợp nặng có viêm lan tỏa toàn bộ khung đại tràng, lan đến đoạn cuối hồi tràng. Tiêu chảy xuất hiện do rối loạn hấp thụ nước và điện giải bởi đại tràng viêm.

- Phản ứng viêm ở đại tràng thường nông. Riêng đối với Shigella dysenteriae 1 đôi khi có thể đưa đến vãng khuẩn huyết (Bacteremia). Thủng đại tràng thường hiếm gặp.

- ở trẻ em: nhiễm Shigella dysenteriae 1 với viêm đại tràng nặng có thể xuất hiện "Hội chứng tán huyết urê huyết cao" do vỡ hồng cầu và lắng đọng cục fibrin gây tắc mạch máu cầu thận.

- Miễn dịch thể dịch qua nhiễm Shigella có vai trò quan trọng, chủ yếu là loại IgA.

4. Lâm sàng


4.1. Thời kỳ ủ bệnh:
Không có biểu hiện lâm sàng. Thường kéo dài 12 - 72 giờ (trung bình 1 - 5 ngày)

4.2. Thời kỳ khởi phát

- Đột ngột với các triệu chứng không đặc hiệu:

+ Hội chứng nhiễm trùng: Sốt cao 39 – 40oC đột ngột, thường kèm theo ớn lạnh, đau nhức cơ toàn thân, mệt mỏi biếng ăn, buồn nôn hoặc nôn mửa. ở trẻ nhỏ có thể co giật do sốt cao.

+ Triệu chứng tiêu hoá: Khởi đầu là tiêu chảy phân lỏng hoặc tiêu toàn nước vàng, kèm theo đau bụng có thể dẫn đến mất nước và điện giải nặng, suy thận cấp, nhưng thường không đến mức đe doạ tính mạng trừ ở trẻ quá nhỏ và người già.

- Giai đoạn này kéo dài một đến ba ngày.

4.3. Thời kỳ toàn phát.

Bệnh diễn tiến thành bệnh cảnh lỵ đầy đủ với:

- Đi ngoài phân nhầy, nhiều lần, lượng phân càng lúc càng ít dần. Trường hợp nặng có thể đến 20 - 40 lần/ngày.

- Mót rặn nhiều, ngày càng tăng, đau thắt ở vùng trực tràng, có thể dẫn đến sa trực tràng ở người già, suy kiệt.

- Đau bụng quặn từng cơn, nhưng thường giảm sau vài ngày. Thể trạng suy sụp nhanh chóng, người mệt mỏi, hốc hác, môi khô, lưỡi vàng bẩn.

- Khám bụng thường thấy đau rõ ở nửa dưới bụng bên trái, vùng đại tràng sigma, hoặc đau toàn bộ khung đại tràng.

4.4. Diễn biến và các thể lâm sàng.

Thông thường sau một đến hai tuần không điều trị bệnh cũng cải thiện dần. Tuy nhiên, bệnh cảnh lâm sàng có khi rất khác nhau như:

- Có thể nặng và cấp với sốt cao, lạnh run, tiêu chảy ồ ạt, rối loạn nước điện giải, suy tuần hoàn, tử vong; thường là do nhiễm Shigella dysenteriae 1.

- Có thể nhẹ (thường là do nhiễm S. sonnei) với tiêu chảy nhẹ hoặc không triệu chứng rõ, chỉ có đau bụng âm ỉ, tiêu phân lỏng thoáng qua sau đó tự khỏi.

- Thể mạn tính: bệnh nhân đi ngoài mũi máu kéo dài làm mất nhiều đạm, rối loạn nước điện giải kéo dài, suy kiệt.

- Ở trẻ em 1-4 tuổi thường bệnh cấp tính với sốt rất cao kèm co giật, biểu hiện thần kinh như li bì, lơ mơ, đau đầu, cổ cứng. Một số trường hợp có thể tử vong do hội chứng tán huyết urê huyết cao hoặc sốc nội độc tố.

5. Cận lâm sàng.


5.1. Công thức máu:
ít có giá trị chẩn đoán.

- Bạch cầu thường tăng trong khoảng 5.000 - 15.000/mm2 với tăng tỷ lệ đa nhân trung tính. Có thể đến 30.000/mm3.

5.2. Xét nghiệm phân:
Có giá trị quan trọng và cần thiết để chẩn đoán. Xét nghiệm phân gồm có:

- Soi phân tươi: Xem đại thể: trường hợp nặng thấy phân lỏng có nhiều nhầy mủ lẫn máu, soi sẽ thấy rất nhiều hồng cầu, bạch cầu đa nhân.

- Cấy phân: Do tính chất kháng thuốc qua trung gian plasmid vi khuẩn ngày càng kháng với các kháng sinh thông thường nên cần phải làm kháng sinh đồ (KSĐ).

5.3. Soi trực tràng

- Thấy hình ảnh viêm lan toả cấp tính niêm mạc, có nhiều vết loét nông đường kính 3-7mm, có thể xuất huyết chỗ loét và cần lấy chất nhầy tại chỗ loét để tìm vi khuẩn.

5.4. Huyết thanh chẩn đoán:
ít có giá trị trên thực tế.

- Phương pháp miễn dịch huỳnh quang trực tiếp: Trên thực tế chỉ dùng huyết thanh đơn giá để chẩn đoán bệnh nhanh khi có dịch ở địa phương do một týp huyết thanh đ• biết trước.

- Phản ứng ngưng kết: Phát hiện kháng thể trong huyết thanh nhưng không có giá trị chẩn đoán sớm.

6. Biến chứng


- Thường ít xảy ra, ngay cả trong trường hợp không được điều trị, trừ ở người già và trẻ em nhỏ.

6.1. Biến chứng sớm

- Sốc do mất nước và điện giải.

- Thủng ruột già ở cơ địa suy kiệt.

- Sa trực tràng hay gặp ở người già.

- Nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram âm (thường là E. coli).

- Viêm màng não, viêm phổi, viêm tuyến mang tai, viêm thần kinh ngoại biên, hội chứng tán huyết urê huyết cao.

6.2. Biến chứng muộn

- Suy dinh dưỡng, phù nề toàn thân do mất đạm kéo dài.

- Viêm khớp gối, mắt cá chân.

- Hội chứng Reiter ở người có HLA-B27 dương tính.

7. Điều trị


7.1. Bồi phụ nước điện giải

- Cần được thực hiện như các trường hợp tiêu chảy khác với dung dịch ORS uống sớm, hoặc dịch truyền nếu mất nước điện giải nặng.

7.2. Kháng sinh

- Có vai trò rút ngắn thời gian bệnh và giảm ngắn thời gian thải vi khuẩn ra phân. Các loại kháng sinh đang được dùng là:

- Ampicillin 2g/ngày, chia làm bốn lần x 5 ngày, ở trẻ em 100mg/kg/ngày, chia bốn lần.

- Trimethoprim + Sulfamethoxazole (viên 80mg + 400mg) x 2viên x 2lần/ngày x 5 ngày cho người lớn. Hoặc 48mg/kg chia 2 lần/ngày cho trẻ em.

- Hiện nay, tỉ lệ vi khuẩn kháng hai loại kháng sinh trên ngày càng tăng. Trường hợp này có thể dùng: Quinolone thế hệ thứ ba như (không dùng cho trẻ em):

+ Ciprofloxacine 500mg x 2 lần/ngày hoặc

+ Pefloxacine 400mg x 2 lần/ngày hoặc

+ Ofloxacine 200mg x 2 lần/ngày.

- Một số thuốc có tác dụng in vitro nhưng không có tác dụng in vivo như Amoxicilline, Neomycine, Kanamycine.

7.3. Điều trị triệu chứng

- Các thuốc làm giảm nhu động ruột có thể làm cải thiện triệu chứng nhưng không nên sử dụng vì làm kéo dài thời gian bệnh và làm chậm thải trừ vi khuẩn.

8. Tiên lượng


- Tỷ lệ tử vong tuỳ theo cơ địa bệnh nhân và tuỳ dòng Shigella gây bệnh. ở các dịch do S. dysenteriae 1 tử vong 10-30%. S. sonnei chỉ gây tử vong 1%.

- Nếu được điều trị thích hợp và sớm, tử vong có thể giảm đến 0%.

- 2% bệnh nhân có xuất hiện viêm khớp, hội chứng Reiter nhiều tuần hoặc nhiều tháng sau hồi phục.

9. Phòng bệnh.


Hoá dự phòng cho số đông trong vùng dịch kém hiệu quả, lại gây nguy cơ tạo các chủng kháng thuốc. Người là nguồn lây duy nhất. Do việc phòng bệnh nhằm vào ba vấn đề chủ yếu:

- Vệ sinh thực phẩm, vệ sinh ăn uống, và vệ sinh nước: Cần rửa tay cẩn thận trước khi ăn và chế biến thực phẩm. Sử dụng nước sạch. Xử lý nước thải hợp vệ sinh. Diệt ruồi nhặng. Kiểm tra vệ sinh các loại thức uống và thức ăn chế biến sẵn.

- Phát hiện và cách ly người bệnh. Khử khuẩn chất thải của người bệnh.

- Kiểm tra phát hiện và điều trị người lành mang trùng, người nhiễm trùng nhẹ, nhất là nhân viên trong các khâu chế biến và phân phối thực phẩm.

PGS. TS Nguyễn Đức Hiền (Viện YHLS bệnh Nhiệt đới QG)
Đăng tải trên: http://benh.vn


Gián, tác hại của gián và cách thức tiêu diệt


Gián là loài côn trùng có đôi cánh ôm kín lưng, kích thước khác nhau tùy theo loài, có thể dài từ 2 - 3mm đến 80mm, thân có màu nâu sáng hoặc đen và chúng ít khi bay.

Các loại gián nhà thường gặp là gián Mỹ (Periplaneta americana), gián Úc (Periplaneta australasiae), gián Đông Phương (Blatta orientalis), gián có băng vàng, nâu (Supella longipalpa), gián Đức (Blattella germanica).

Gián sinh trưởng qua 3 giai đoạn: trứng, thiếu trùng và con trưởng thành. Tùy theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp, trứng gián có thể nở thành thiếu trùng sau từ 1 đến 3 tháng. Thiếu trùng hay còn gọi là gián con thường không có cánh và dài chỉ vài milimét. Khi mới nở có màu trắng và đen dần sau vài giờ. Gián con lột xác và lớn lên, phát triển thành gián trưởng thành từ sau vài tháng đến hơn một năm tùy theo loài. Gián trưởng thành có thể có cánh hoặc không có cánh.

Gián nhà thường sống chung với người và gây hại cho con người ở trong nhà tại những vùng có khí hậu nhiệt đới, ôn đới, ấm áp, ẩm thấp, có thức ăn thích hợp. Chúng sống thành đàn và hoạt động mạnh về ban đêm, còn ban ngày tìm nơi tối tăm, ẩm thấp để trú ẩn như ở hố hốc, kẽ tường, kẽ cửa, kẽ tủ, nhà vệ sinh, tủ đựng bát đĩa và đồ ăn, nơi để các thiết bị truyền thanh, truyền hình và các dụng cụ điện; ống nước và rãnh thoát nước, chuồng gia súc... Trong đêm tối, gián thường bò đi tìm thức ăn ở nhà bếp, tủ đựng bát đĩa và thức ăn, nơi thùng rác, cống rãnh thoát nước... Khi ta bật đèn sáng, gián bị hoảng loạn và chạy loạn xạ trên bát đĩa, đồ dùng nấu ăn, nền nhà... để tìm nơi ẩn náu.

Gián là loài côn trùng thuộc loại phàm ăn và ăn tạp vì chúng ăn được tất cả các loại thức ăn của con người, nhưng món “khoái khẩu” nhất đối với chúng là các loại thức ăn có chất bột và đường như sữa, bơ, bánh ngọt, sô cô la... Khi không có thức ăn ngon, gián cũng có khả năng ăn cả bìa gáy sách, tủ đựng đồ đạc và trần nhà có chất bột, thậm chí cả đế giày, tấm lót giày, xác lột và xác chết của chúng, máu tươi, máu khô, phân... và tệ hại hơn nữa là nhấm luôn cả móng chân, móng tay của trẻ em, người ốm, người lớn đang ngủ ngon giấc...

Khi gián phát triển quá nhiều và quá đông đúc, chúng có khả năng di cư đến nơi ở mới bằng cách bò hay bay thành đàn để tìm chỗ sinh sống.

Gián nhà và khả năng truyền bệnh


Gián nhà là loại côn trùng có hại cho sinh hoạt hàng ngày và sức khỏe của con người vì chúng có tập tính sống ở những nơi bẩn thỉu, hủy hoại và làm thức ăn bị nhiễm khuẩn, đồng thời có thể gặm nhấm làm hư hỏng một số vật dụng như quần áo, vải vóc, bìa gáy sách vở... Chúng vừa ăn vừa nôn mửa những thức ăn mà chúng đã tiêu hóa một phần và đào thải phân rải rác khắp nơi. Các chất bài tiết, nôn mửa từ miệng gián, các tuyến trên cơ thể của gián có mùi hôi đặc biệt, rất khó chịu và đọng lại rất lâu trên những vật dụng mà nó đã đi qua. Có lẽ bất cứ ai cũng có thể cảm nhận được cái mùi rất đặc trưng của loài gián sống gần gũi và làm phiền hà cho mình, một số người thường bị dị ứng với gián khi có sự tiếp xúc thường xuyên.

Hoạt động của gián nhà là bò, chạy tự do từ nhà này sang nhà khác, từ cống rãnh, vườn tược, hố rác, nhà vệ sinh... rồi vào nhà ở để trú ẩn. Chúng có thể ăn tất cả những chất thải cũng như thức ăn của con người nên thường mang và phát tán mầm bệnh tấn công con người. Gián không phải là tác nhân gây bệnh nhưng nó là trung gian truyền và phát tán một số loại bệnh đã được khẳng định hoặc nghi ngờ vì nó mang mầm bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, dịch tả, phong, dịch hạch, thương hàn, virus bại liệt... Ngoài ra, nó còn mang các loại trứng giun đường ruột, gây tác động kích thích dị ứng, ngứa, viêm da, mí mắt và các rối loạn hô hấp khác tùy theo mức độ.

Các cách diệt dán đơn giản & hiệu quả

1. Bẫy băng dính và hành

Bạn cắt lát hành để làm mồi thu hút gián, đặt chúng lên một đoạn băng dính (dài khoảng 15 - 30cm - tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng). Sau đó, đặt băng dính tại những nơi có nhiều gián, chúng tìm thức ăn và sẽ bị giữ lại ở đây.

Ngoài băng dính, bạn có thể mua sẵn miếng dính bẫy côn trùng. Rải, bôi thực phẩm có mùi thơm mà gián thích (bánh kẹo, đường sữa, thịt) lên đó để hấp dẫn chúng đến và mắc vào bẫy.

2. Dùng rượu vang

Bạn đổ một chút rượu vào chai, lọ, đặt ở bếp hoặc góc tường. Mùi rượu khiến gián tìm đến và bị rơi xuống, chết trong rượu. Với cách này bạn không nên dùng các chất lỏng dễ cháy như xăng, dầu... vì dễ gây nguy hiểm (nhất là với trẻ nhỏ).

3. Bột baking soda

Hỗn hợp giữa bột mì hoặc thực phẩm với baking soda sẽ là vũ khí tiêu diệt gián rất nhanh. Bạn rắc hỗn hợp này tại khe cửa, nhà bếp... Trong cơ thể gián chất nội tiết toàn là chất acid để tiêu hóa thức ăn độc hại, nên khi acid gặp bột baking soda có bazơ sẽ tạo nhiều hơi làm gián bị phình bụng mà chết.

4. Tự chế bẫy bắt gián

Rất đơn giản, bạn cắt phần miệng chai nước (hình phễu), đảo ngược và gắn chúng vào phần thân còn lại. Sau đó, đổ vào chai nước ngọt hoặc nước có lẫn hoa quả, thức ăn mà gián rất thích. Khi chúng bò theo miệng phễu, sẽ rơi xuống đáy chai có nước.

Một cách khác, với các lọ thủy tinh tròn, có miệng rộng, bạn bỏ thức ăn vào đáy lọ. Dùng dầu ăn bôi quanh miệng và thành lọ thủy tinh để khi gián rơi vào đó, chúng không thể bò lên được.

5. Sử dụng bẫy nhiều cửa

Bẫy nhiều cửa chỉ có đường vào, khi ngửi mùi thức ăn, gián bò vào bẫy, phần cửa sẽ sập xuống và giữ chúng ở lại .

6. Đuổi gián bằng mùi hương

Đặt hành tây, dưa chuột hoặc lá đào tươi ở những nơi thường xuất hiện gián, để xua đuổi loài gián, chúng không thích mùi cay nồng, mùi dưa... vì thế sẽ tự động bỏ đi.

7. Loại bỏ điều kiện sống của gián

Dọn dẹp nhà bếp sạch sẽ, loại bỏ thức ăn thừa, không để bát đĩa bẩn trong chậu rửa qua đêm, để không tạo điều kiện cho gián sinh sôi, phát triển.


Nguồn:
(1) kienthuc.net.vn
(2) khoahoc.com.vn

100 cách diệt chuột


Cuốn sách "100 cách diệt chuột" này cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cơ bản và khá đầy đủ về các loài chuột thường gặp, thói quen hoạt động của chúng, cùng với các biện pháp diệt chuột có hiệu quả bằng các công cụ và các loại thuốc diệt chuột.

Các bạn cũng có thể sử dụng tài liệu này cho mục đích tập huấn kỹ năng kiểm soát động vật gây hại cho nhân sự được phân công kiểm soát động vật gây hại (theo yêu cầu của BRC Food & IFS Food).



Lý do bạn cần ngăn ngừa và tiêu diệt chuột: hơn 18 loại vi trùng, virus có ở chuột!


Nhiều người xem chuột là loại thú cưng trong nhà và thậm chí còn mang chúng đến văn phòng làm việc. Tuy vậy, loài gậm nhấm này lại là mối nguy tiềm ẩn cho những loại bệnh truyền nhiễm như dịch hạch, một trong những dịch bệnh kinh hoàng nhất thời Trung cổ ở Châu Âu.

Nghiên cứu của Big Apple công bố trên tạp chí mBio cho thấy có khoảng 18 loại virus mới chưa từng được biết được phát hiện trên các cá thể chuột thí nghiệm.

Cụ thể, các nhà khoa học đã sử dụng 133 con chuột được bẫy từ 5 địa điểm khác nhau của thành phố New York (Mỹ). Các nhà khoa học đã lấy các mô tế bào và chất thải của chuột (nước bọt, phân) để xét nghiệm. Các mẫu thí nghiệm cho thấy có nhiều vi khuẩn nguy hiểm, bao gồm cả E.Coli và Salmonella. Ngoài ra, họ còn tìm thấy khoảng 18 loại virus mới trước đây chưa từng xuất hiện (kể cả trên cơ thể người) và hai trong số đó giống với cấu trúc của virus gây viêm gan C.

Các nhà khoa học cho biết họ sẽ tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của những virus mới này lên con người trước khi quyết định đưa ra những cảnh báo về an toàn sức khỏe.

Nguồn: khoahoc.com.vn

E.coli

E.coli là gì?


E.coli (Escherichia coli) là vi sinh vật hiện diện trong đường ruột của người và các loài động vật máu nóng. Hầu hết các dòng E.coli không gây hại và đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định sinh lý đường ruột. Tuy nhiên có 4 dòng E.coli có thể gây bệnh cho người và một số loài động vật là Enteropathogenic E.coli, Enterotoxigenic E.coli, Enteroinvasive E.coli và Enterohaemorrhagic E.coli hay còn gọi là E.coli O157:H7.

Chúng ta thường gặp E.coli ở đâu?


Các loài E.coli hiện diện rộng rãi trong môi trường bị ô nhiễm phân hay chất thải hữu cơ, phát triển và tồn tại rất lâu trong môi trường. Gần đây, người ta còn chứng minh được rằng E.coli cũng hiện diện ở những vùng nước ấm không bị ô nhiễm chất hữu cơ.

Thực phẩm bị nhiễm E.coli như thế nào?


Do sự phân bố rộng rãi trong tự nhiên như vậy nên E.coli dễ dàng bị nhiễm vào thực phẩm từ nguyên liệu hay thông qua nguồn nước trong quá trình sản xuất, chế biến.

Biểu hiện khi bị nhiễm E.coli?


Các dòng E.coli gây bệnh gây ra các triệu chứng rối loạn đường tiêu hoá. Biểu hiện lâm sàng thay đổi từ nhẹ đến rất nặng, có thể gây ra chết người phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm, dòng gây nhiễm và khả năng đáp ứng của từng người.

Tiêu chảy ra máu là triệu chứng chính của nhiễm E.coli. Người bị nhiễm cũng có thể cảm thấy đau thắt bao tử và nôn ói. Triệu chứng chính thường bắt đầu 3 hay 4 ngày sau khi bị phơi nhiễm vi khuẩn E.coli. Phần lớn bệnh nhân hồi phục sau vài ngày hay một tuần sau khi mắc bệnh. Tuy nhiên cũng có thể có nhiều người bị nhiễm mà không có triệu chứng và không mắc bệnh.

Khi bệnh nhân bị nhiễm E. coli nghiêm trọng (tức có thể làm rối loạn máu và suy thận), một số biểu hiện có thể dễ nhận thấy như:
- Da xanh xao
- Cảm lạnh
- Cảm thấy yếu cơ
- Xuất hiện những vết thâm tím trên người
- Đi tiểu rất ít nước tiểu

Phát hiện E.coli bị nhiễm trong thực phẩm và trong nước bằng cách nào?


Nước và thực phẩm bị nhiễm E.coli chẳng có biểu hiện gì đặc biệt nên rất khó mà biết nước uống và thức ăn mà chúng ta dùng hàng ngày có bị nhiễm E.coli hay không? Thông thường, để phát hiện thực phẩm hay nước bị nhiễm E.coli phải thực hiện các thí nghiệm. Các thí nghiệm này được thực hiện rất phổ biến tại các cơ sở cung cấp dịch vụ phân tích thí nghiệm. Chi phí thực hiện cũng tương đối thấp.

Tiêu diệ E.coli bằng cách nào?


- Nấu chín thực phẩm ở nhiệt độ tối thiểu 70 oC từ 15 giây trở lên có thể hoàn toàn tiêu diệt được E.coli
- Các loại hóa chất khử trùng cũng có thể có tác dụng tốt trong việc tiêu diệt loại vi khuẩn gây bệnh này

Nguồn: internet

Hình dạng vi khuẩn bám trên răng người

Kính hiển vi điện tử khiến những loài vi khuẩn bám trên răng người “hiện nguyên hình”. Các chuyên gia hy vọng, hình ảnh đáng sợ sẽ giúp nâng cao ý thức vệ sinh răng miệng.
Hình ảnh phóng đại của vi khuẩn hình cầu. Chúng bám chặt vào mảng ố vàng của răng.

Mảng bám ô vàng và bề mặt răng nhìn dưới kính hiển vi.

Những hạt rất nhỏ trên một mảng bám được nhuộm hồng. Chúng ta không thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường.

Các nhà nghiên cứu nhuộm màu và phóng đại 1.000 lần kính thước vi khuẩn.

Màng bám hình thành trên bề mặt răng do vi khuẩn. Mảng bám tỉ lệ thuận với sự sinh sôi của vi khuẩn.

Vi khuẩn màu vàng, bám trên răng, lợi và những vùng khác trong miệng của con người.

Tập hợp vi khuẩn tạo mảng bám.


Nguồn: khoahoc.com.vn

Tình hình ngộ độc thực phẩm tính đến tháng 8-2014

Bộ Y tế cho biết, tính đến ngày 30/6/2014, toàn quốc ghi nhận có 90 vụ ngộ độc thực phẩm với 2636 người mắc, 2035 người đi viện và 28 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2013, số vụ giảm 05 vụ (5,3%), tuy nhiên số mắc tăng 528 người (25%), số đi viện tăng 213 người (11,7%) và số tử vong tăng 10 người (55,6%).

Số vụ ngộ độc thực phẩm lớn (≥ 30 người mắc/vụ) tăng 02 vụ (11,8%), ngộ độc thực phẩm tại bếp ăn tập thể tăng 10 vụ, ngộ độc thực phẩm do thức ăn đường phố giảm 05 vụ (62,5%).

Nguyên nhân ngộ độc là do vi sinh vật, độc tố tự nhiên là 27 vụ (30%) và hóa chất. Nguyên nhân gây tử vong chủ yếu do độc tố tự nhiên có trong nấm, cóc, cá nóc, sò biển, rượu ngâm củ ấu tầu, ve sầu, côn trùng dạng bọ xít đen, độc tố vi nấm trong bánh trôi ngô mốc.
(Nguồn: http://www.baomoi.com)
Theo báo cáo tổng kết tháng 8 của Bộ Y tế, chỉ riêng trong tháng 8-2014, cả nước xảy ra 11 vụ ngộ độc thực phẩm làm 307 người mắc, 216 người đi viện và một trường hợp tử vong. Tính từ đầu năm đã có 87 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 19 người thiệt mạng và hàng ngàn người khác phải nhập viện điều trị

Nguyên nhân ban đầu của những vụ ngộ độc thực phẩm trong tháng 8 là do vi sinh vật (3/11 vụ), do độc tố tự nhiên (3/11 vụ), do hóa chất (1/11 vụ), còn lại 4/11 vụ chưa xác định được nguyên nhân gây ngộ độc.

Tính từ đầu năm đến ngày 17-8, toàn quốc đã xảy ra 87 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 2.900 người mắc, 2.300 người đi viện và 19 người tử vong. Con số tử vong tăng 3 người so với 2013; năm ngoái có 16 người tử vong trong 163 vụ ngộ độc với hơn 5.000 nạn nhân.
Nguồn: http://www.thesaigontimes.vn


Các thông tin về ngộ độc thực phẩm được cập nhật tại trang tin điện tử của Cục vệ sinh an toàn thực phẩm, bạn có thể xem tại đây

Tiêu chuẩn ISO/TS 22002-1:2009 - Prerequisite Programme on Food Safety - Part 1: Food Manufacturing

95% người rửa tay không đúng cách


Sau khi sử dụng nhà vệ sinh, có tới 95% người không rửa tay đúng cách và đủ lâu để tiêu diệt các vi khuẩn gây hại, theo một nghiên cứu mới tiến hành tại Mỹ.

Nhóm nghiên cứu đến từ Đại học Michigan đã huấn luyện hơn 10 sinh viên kín đáo quan sát và thu thập dữ liệu về hành vi rửa tay trong phòng vệ sinh ở các quán bar, nhà hàng và những nơi công cộng khác tại địa phương.

95% người rửa tay sai cách khi đi vệ sinh
Rửa tay bằng xà phòng với nước trong ít nhất 15 giây là một cách hữu hiệu chống lây lan các bệnh truyền nhiễm. (Ảnh: Chicago Tribune)