Showing posts with label Sức Khỏe. Show all posts

Một hướng dẫn của WHO về kiểm soát nhiễm khuẩn

Một hướng dẫn của WHO về kiểm soát nhiễm khuẩn

Good Medical Practice 2013 của General Medical Council

Good Medical Practice 2013 của General Medical Council

IMPLEMENTATION MANUAL SURGICAL SAFETY CHECKLIST

IMPLEMENTATION MANUAL SURGICAL SAFETY CHECKLIST

Tiến trình phẫu thuật bệnh nhân

Tiến trình phẫu thuật bệnh nhân

Nhiều nhân viên y tế rửa tay không đúng cách

Theo một nghiên cứu của Mỹ, 78% y bác sĩ quên rửa tay hoặc rửa tay qua loa, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng của bệnh nhân.

Không phải ai cũng chăm chỉ rửa tay, kể cả nhân viên y tế. Tại Hội nghị Các chuyên gia Kiểm soát Dịch bệnh APIC, các nhà khoa học cho biết rất nhiều bác sĩ, y tá bỏ qua bước vệ sinh cơ bản này.

Theo Men's Health, nhóm nhà nghiên cứu đã quan sát gần 4.000 nhân viên y tế khi ra vào phòng bệnh nhân, thời điểm mà họ bắt buộc phải rửa tay. Tuy nhiên, 78% số này không rửa tay hoặc rửa tay cẩu thả. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) rửa tay đúng cách là cho xà phòng vào lòng bàn tay, rửa toàn bộ bề mặt tay trong 15-20 giây, rửa sạch xà phòng bằng nước sạch, lau bằng khăn khô rồi dùng khăn khóa vòi nước để tránh chạm lại vào chỗ bẩn.

Lỗi nhân viên y tế thường mắc là chỉ cho xà phòng vào lòng bàn tay và không dùng khăn khi khóa vòi nước. Đôi khi, họ còn không rửa tay chút nào.

Các chuyên gia nhận định y bác sĩ biết rõ phải giữ bàn tay sạch sẽ nhưng căng thẳng, áp lực khiến họ vô tình quên công đoạn này. Nghiên cứu năm 2014 của Đại học Pennsylvania phát hiện nhân viên y tế rửa tay ít hơn nếu quá bận rộn. Trên thực tế, một bác sĩ hoặc y tá đang gấp rút cấp cứu bệnh nhân sẽ không ưu tiên rửa tay.

Dù sao đi nữa, y bác sĩ không rửa tay khiến nguy cơ nhiễm trùng của bệnh nhân tăng cao. Vì thế, bệnh nhân đi khám cần mạnh dạn đề nghị nhân viên y tế nếu thấy họ vào phòng mà chưa rửa tay.

Rửa tay thế nào mới đúng?

Nhân viên y tế phải rửa tay khi nào?

Nguồn: vnexpress.net

Ngộ độc thực phẩm do Salmonella

Salmonella là một giống vi khuẩn hình que, trực khuẩn gram âm, kị khí tùy nghi không tạo bào tử, di động bằng tiên mao, sinh sống trong đường ruột, có đường kính khoảng 0,7 µm đến 1,5 µm, dài từ 2 µm đến 5 µm và có vành lông rung hình roi. Hầu hết các loài Salmonella có thể sinh hydro sulfua[1]. Salmonella không lên men lactose (trừ Salmonella arizona) và sucrose nhưng lên men được dulcitol, mannitol và glucose. Chúng kém chịu nhiệt nhưng chịu được một số hóa chất: brilliant green, sodium lauryl sulfate, selenite,...

Ngộ độc thực phẩm do salmonella
Vi khuẩn Salmonella

Không chỉ tồn tại trong các lọai thực phẩm bị nhiễm khuẩn (trứng, thịt, rau,hoa quả…), Salmonella còn có thể lây truyền nếu bạn chạm hoặc tiếp xúc trực tiếp với các loài động vật, đặc biệt là gà, vịt và rùa. Salmonella là một loại vi khuẩn - căn nguyên gây ra nhiều loại bệnh do thực phẩm nhiễm độc hay còn gọi là ngộ độc thực phẩm với các triệu chứng điển hình gồm nôn, buồn nôn và tiêu chảy.

Nhiễm khuẩn Salmonella rất phổ biến và đa số không nguy hiểm. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nếu vi khuẩn Salmonella lan từ ruột vào máu và các cơ quan khác, chúng sẽ gây ra rất nhiều biến chứng nguy hiểm. Những người có nguy cơ cao bị Salmonella lây lan vào máu bao gồm:

  1. AIDS: Với những bệnh nhân bị AIDS, hệ miễn dịch bị suy giảm, tạo điều kiện cho Salmonella và các vi khuẩn khác tấn công cơ thể Ung thư: Những bệnh nhân ung thư phải dùng xạ trị - gây suy giảm hệ miễn dịch của cơ thể, từ đó vi khuẩn Salmonella dễ dàng lây lan vào máu
  2. Bệnh thiếu máu hồng cầu liềm
  3. Cấy ghép tạng (tim, phổi, thận…)
  4. Bệnh nhân dùng thuốc chứa Steroid liều cao, trong thời gian dài gây suy giảm hệ miễn dịch
  5. Trẻ đẻ non và những trẻ có vấn đề liên quan đến khả năng đề kháng.
  6. Những người bị bệnh lí tim mạch hoặc phẫu thuật thay thế khớp gối là nhóm đối tượng có nguy cơ bị vi khuẩn Salmonella lây lan sang các mạch máu hoặc khớp gối nhân tạo. Nhóm đối tượng này cũng có sức đề kháng kém hơn so với bình thường nên khả năng nhiễm Salmonella cũng cao hơn.

Triệu chứng nhiễm Salmonella

Những triệu chứng thường gặp khi nhiễm Salonella gồm:

  1. Buồn nôn, nôn
  2. Sốt kéo dài (2-3 ngày)
  3. Tiêu chảy: phân nhầy nước / lẫn máu, kéo dài 4 đến 10 ngày.
  4. Đau bụng

Khi nào nên đến khám bác sĩ hoặc điều dưỡng?

Bạn nên đến gặp các bác sĩ hoặc điều dưỡng nếu bạn có các triệu chứng dưới đây:

  1. Đau bụng dữ dội
  2. Không thể ăn hoặc uống
  3. Nôn/đi ngoài ra máu
  4. Sốt cao > 380C

Các xét nghiệm chẩn đoán Salmonella là gì?

Để chẩn đoán xác định Salmonella, các bác sĩ hoặc điều dưỡng sẽ cho bạn cấy phân để tìm vi khuẩn. Tuy nhiên, biện pháp xét nghiệm này sẽ mất 2-3 ngày mới có kết quả. Trong một số trường hợp nhiễm khuẩn Salonella thể nặng, các bác sĩ hoặc điều dưỡng sẽ “bắt tay”điều trị ngay mà chưa cần kết quả xét nghiệm

Điều trị nhiễm khuẩn Salmonella như thế nào?

Hầu hết các trường hợp nhiễm Salmonella đều có thể tự khỏi mà không cần điều trị. Tuy nhiên, với những bệnh nhân nhiễm Salmonella nặng và có nguy cơ gây ra các biến chứng nguy hiểm, các bác sĩ sẽ cho bệnh nhân điều trị bằng kháng sinh theo đường tiêm.

Một số trường hợp có khả năng cao nhiễm vi khuẩn Salmonella thì sẽ được chỉ định dùng kháng sinh đường uống. Kháng sinh giúp điều trị nhiễm trùng và ngăn chặn khả năng Salmonella quay lại.

Tôi có thể tự làm gì để cảm thấy dễ chịu hơn?

Để cảm thấy thoải mãi, dễ chịu hơn, bạn có thể:

  1. Uống nhiều nước: Biện pháp này giúp bạn phòng tránh nguy cơ mất nước do tiêu chảy, nôn mửa kéo dài
  2. Chia nhỏ bữa ăn, hạn chế đồ ăn nhiều dầu mỡ
  3. Nghỉ ngơi, thư giãn

Phòng tránh Salmonella như thế nào?

Bạn có thể phòng tránh nhiễm khuẩn Salmonella bằng cách:

  1. -Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã cho trẻ, sau hắt hơi, ho hoặc sau khi chạm vào vật nuôi
  2. -Nghỉ ngơi, tránh làm việc quá sức

An toàn thực phẩm

Dưới đây là một số lời khuyên giúp bạn giữ thực phẩm luôn vệ sinh, an toàn:

  1. Không ăn / uống sữa hoặc những sản phẩm từ sữa chưa thanh trùng
  2. Rửa sạch hoa quả, rau củ trước khi ăn
  3. Gĩu thực phẩm ở nhiệt độ 4.40C hoặc -180C
  4. Chỉ ăn thức ăn đã nấu chín
  5. Rửa sạch các dụng cụ sau khi thái các thực phẩm sống

Nếu tôi mang thai mà bị nhiễm Salmonella, tôi nên làm gì?

Nếu bạn nhiễm Salmonella trong quá trình mang thai, hãy đi khám bác sĩ, điều dưỡng hoặc nữ hộ sinh - họ sẽ đưa ra những lời khuyên giúp bạn an toàn nhất. Đa phần, những phụ nữ đang mang thai mà nhiễm Salmonella sẽ không cần điều trị, tuy nhiên, nếu nhiễm Salmonella thể nặng và hoặc đang gần đến ngày sinh, có thể họ sẽ phải ở lại viện để theo dõi.

Nguồn:

  1. vi.wikipedia.org/wiki/Salmonella
  2. easycare.vn

Thực hành tốt về kiểm soát động vật gây hại

Tại sao phải rửa tay?

Một bàn tay bình thường có khoảng 150 loại vi khuẩn và bàn tay phụ nữ nhiều vi khuẩn hơn tay đàn ông. Đây là kết luận được rút ra từ nghiên cứu của các nhà khoa học tại trường Đại học Colorado, Mỹ.

Nguồn: healthplus.vn

Thông tin về một số loại thực phẩm có thành phần gây dị ứng

Có hơn 160 loại đồ ăn có thể gây dị ứng, trong đó 8 thực phẩm bên dưới là chủ yếu. Nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, EU, Nhật, Australia và New Zealand bắt buộc nhãn về các thành phần gây dị ứng trên bao bì.

1. Sữa bò

Sữa bò là thủ phạm chính gây dị ứng thức ăn ở trẻ nhỏ. Khoảng 2-3% các bé dị ứng với sữa. Rất may khi lên 6 tuổi, 90% số trẻ này tự khỏi. Thực phẩm có thành phần gây dị ứng Dị ứng sữa bò liên quan tới phản ứng miễn dịch chống lại một trong hai hoặc cả hai protein của sữa là casein và protein huyết thanh (whey protein). Các protein này cũng có mặt trong sữa của động vật có vú khác, vì vậy bé dị ứng sữa bò thường cũng dị ứng với sữa dê, sữa cừu.

Dị ứng với protein sữa bò thường gây biểu hiện ngoài da (ban đỏ, mày đay, viêm da, chàm), triệu chứng tiêu hóa (đau bụng, rối loạn tiêu hóa), và hô hấp (khó thở, hen) ngay trong giờ đầu sau khi sử dụng. Trường hợp dị ứng nặng có thể gây sốc phản vệ, nguy cơ tử vong cao. Trên lâm sàng, dị ứng sữa bò thường bị nhầm với không dung nạp sữa bò, một bệnh lý có nguyên nhân di truyền, do thiếu men tiêu hóa đường lactose.

Dị ứng sữa bò làm tăng nguy cơ dị ứng với các thức ăn khác cũng như dị ứng ở mũi. Có tới 10% trẻ dị ứng sữa bò sẽ phản ứng với thịt bò.

2.Trứng

Trứng là nguyên nhân hay gặp thứ hai gây dị ứng thức ăn ở trẻ nhỏ, khoảng 1,5% các bé dị ứng với trứng gà. Tình trạng này ít gặp ở người trưởng thành, 80% trẻ thoát khỏi dị ứng trứng khi lên 6 tuổi.

Phần lớn các protein gây dị ứng nằm trong lòng trắng, trong khi protein lòng đỏ ít gây dị ứng hơn. Do sự tương đồng giữa protein trứng gà và các loại trứng khác, người dị ứng trứng gà thường dị ứng với trứng vịt, trứng ngan... Sử dụng thịt gà thịt vịt không gây rắc rối gì.

Dị ứng trứng thường gây biểu hiện ngoài da (viêm da, mày đay) và tiêu hóa (đau bụng, buồn nôn, nôn). Phản ứng ngoài da đầu tiên có thể xuất hiện chỉ vài phút sau khi dùng trứng, trong khi các biểu hiện tiêu hóa thường rất khác biệt về thời điểm xuất hiện, độ nặng và mức độ kéo dài. Sốc phản vệ và phản ứng hô hấp (khó thở, ho, lên cơn hen) sau ăn trứng cũng đã được ghi nhận.

Nhiệt độ cao không làm giảm khả năng gây dị ứng của trứng.

3. Cá

Dị ứng cá thường bắt đầu ở tuổi trưởng thành, người bị dị ứng hiếm khi tự thoát khỏi tình trạng này. Bệnh hay gặp ở nơi người dân hay ăn cá.

Tuy cá hết sức đa dạng, thành phần gây dị ứng chính của tất cả các loại cá là protein parvalbumin. Những người phản ứng với một loại cá thường cũng dị ứng với các loại cá khác.

Dị ứng cá thường gây biểu hiện ngoài da và tiêu hóa, xuất hiện ngay sau khi ăn. Đôi khi có thể có phản ứng toàn thân, bao gồm cả sốc phản vệ.

Nhiệt độ cao không làm phá hủy tính dị ứng của parvalbumin, vì vậy tránh ăn cá là biện pháp duy nhất để phòng ngừa.

4. Tôm cua

Dị ứng với hải sản có vỏ cứng như tôm cua thường xuất hiện ở trẻ lớn và người lớn, nhất là ở những vùng người dân hay ăn tôm cua. Người dị ứng với tôm cua cũng thường dị ứng với các loài nhuyễn thể như trai, sò, ốc, hến, ngao, mực, bạch tuộc...

Triệu chứng dị ứng bao gồm phản ứng cục bộ nhẹ ở miệng (ngứa miệng, họng) tới phản ứng toàn thân, đe dọa tính mạng. Đôi khi có thể có biểu hiện đường tiêu hóa và hô hấp.

Nhiệt độ cao không làm giảm tính dị ứng của nhóm thực phẩm này, vì vậy người dị ứng cần tránh tất cả các loại tôm cua.

5. Lạc

Khoảng 0,5-1% trẻ bị dị ứng lạc. Không như dị ứng sữa và trứng, bệnh này ít tự khỏi, 75% các bé vẫn dị ứng lạc khi trưởng thành.

Lạc là cây họ đậu có nguồn gốc Nam Mỹ, cùng họ với các loại đậu hạt, đậu nành. Thủ phạm gây dị ứng là các protein dự trữ, nguồn dinh dưỡng cho sự tăng trưởng của cây sau này. Hai protein gây dị ứng mạnh nhất là vicilin và albumin, vẫn bền vững ở nhiệt độ cao, tuy nhiên lạc nướng gây dị ứng nhiều hơn lạc luộc hay rang.

Biểu hiện lâm sàng của dị ứng lạc có thể gồm dị ứng ở miệng (ngứa miệng và họng) hay khó thở (hen), thậm chí là sốc phản vệ. Trong tất cả các loại dị ứng thức ăn, dị ứng với lạc thường có biểu hiện nặng nề nhất. Lạc có thể gây dị ứng mạnh ngay trong lần sử dụng đầu tiên. Triệu chứng ngứa ran ở môi khi tiếp xúc với lạc là dấu hiệu cảnh báo của phản ứng mạnh có thể xảy ra. Trong một số ít trường hợp, chỉ cần hít phải mùi lạc hoặc tiếp xúc da tối thiểu, thậm chí là hôn nhau cũng có thể dẫn tới dị ứng lạc.

Khoảng 80% trẻ em bị dị ứng lạc sẽ phản ứng ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên. Còn chưa rõ vì sao cơ thể có phản ứng dị ứng khi chưa tiếp xúc trực tiếp với lạc trước đó. Có giả thiết cho rằng các bé đã làm quen với protein lạc khi nằm trong bụng mẹ hoặc trong thời gian bú mẹ. Bệnh nhân dị ứng lạc cũng thường dị ứng với các loại hạt cây như hạt dẻ, hạt điều, hạnh nhân, hạt dẻ cười...

Ngưỡng gây dị ứng lạc được ghi nhận là 1 miligam (một hạt lạc có khối lượng trung bình 500-1000 mg). Điều này có nghĩa 1/1.000 hạt lạc cũng có thể làm khởi phát phản ứng dị ứng ở một số bệnh nhân.

6. Hạt cây

Các loại hạt như hạt dẻ, hạt điều, hạnh nhân, óc chó, hạt dẻ cười, hạt thông… được coi là thực phẩm có tiềm năng gây dị ứng lớn nhất, nghĩa là chỉ cần một lượng rất nhỏ cũng đủ gây phản ứng dữ dội. Khoảng 0,5% dân số dị ứng với các hạt này, bệnh hiếm khi tự khỏi. Trẻ dị ứng với một loại hạt cây thường cũng sẽ dị ứng với các loại hạt cây khác và có thể dị ứng chéo với lạc. Dị ứng hạt điều được cho là nặng hơn dị ứng lạc.

Triệu chứng lâm sàng bao bồm các dấu hiệu phản ứng nhẹ như nổi mẩn quanh miệng hoặc toàn thân, đau bụng, nôn. Trường hợp nặng có thể gây ho, thở khò khè, khó thở, khàn giọng do dị ứng đường hô hấp. Trường hợp rất nặng có thể gây ngất, thậm chí là sốc phản vệ dẫn tới tử vong.

Phản ứng dữ dội với hạt có thể bị kích hoạt bởi một lượng thực phẩm cực nhỏ (đôi khi chỉ là tiếp xúc qua da hoặc qua hít thở), người bị dị ứng cần tuyệt đối tránh các thực phẩm này.

7. Lúa mì

0,4% trẻ nhỏ dị ứng với lúa mì. Khoảng 80% sẽ tự khỏi khi lên 6 tuổi. Dị ứng lúa mì là phản ứng đặc biệt của hệ miễn dịch với một số protein trong lúa mì.

Các biểu hiện thường bao gồm phản ứng cục bộ nhẹ của da, họng và ruột; sốc phản vệ rất hiếm gặp. Khó phân biệt các triệu chứng lâm sàng do nguyên nhân dị ứng với các trường hợp không dung nạp gluten hay hội chứng kém hấp thu gluten (bệnh Celiac). Không dung nạp gluten gây các triệu chứng đường ruột nặng nề, tuy nhiên không gây tổn thương ruột như trong bệnh Celiac. Gluten là một loại protein có trong lúa mì, yến mạch, lúa mạch, lúa mạch đen...

8. Đậu tương

Tuy có nhiều báo cáo về các trường hợp dị ứng với đậu tương nhưng rất khó xác định tỷ lệ thực. Nhiều trường hợp dị ứng với các loại đậu khác có thể mang kháng thể IgE chống đậu tương nhưng không có phản ứng khi dùng sản phẩm này.

Dị ứng với đậu tương chủ yếu ghi nhận ở trẻ nhỏ bị chàm (viêm da cơ địa), các bé thường thoát khỏi dị ứng sau 1-2 năm không đùng đậu tương. Hiện tượng này ít gặp ở người lớn.

Dị ứng khi dùng thức ăn từ đậu tương có thể gây biểu hiện ngứa và sưng ở miệng họng, buồn nôn, tiêu chảy, viêm mũi dị ứng hay hen và mày đay. Trường hợp nặng bệnh nhân có thể hạ huyết áp, khó thở.

Hít phải bột đậu tương khi làm việc có thể dẫn tới các biểu hiện hô hấp như viêm mũi hay hen. Bệnh nhân dị ứng do hít phải bụi đậu thường không gặp bất thường khi ăn thức ăn từ thực phẩm này. Bụi đậu tương là thủ phạm gây ra dịch hen của công nhân bốc vác tại một số thành phố cảng Tây Ban Nha trong khoảng thời gian 1981-1987 cũng như ở New Orleans (Mỹ) những năm 1950 và 1960.

Nguồn: vnexpress.net

Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

Các bệnh lý bàn tay như: tê các ngón tay do hội chứng ống cổ tay, ngón tay cò súng, viêm các bao gân gấp... thường gặp ở giới văn phòng do sử dụng bàn phím nhiều.

Sự bùng nổ của bệnh lý miễn dịch như viêm khớp dạng thấp gây phá hủy khớp bàn tay, thoái hóa khớp sớm.

Để phòng ngừa hay làm chậm lại các bệnh lý này, xin giới thiệu bạn đọc một số bài tập đơn giản, tập được tại chỗ nhằm tăng sức cơ, cải thiện tầm vận động bảo vệ bàn tay trước nguy cơ thoái hóa.

Chú ý: bài tập cơ ngón cái chiếm vị trí quan trọng và khi có sưng bàn tay thì không nên tập. Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

KHỞI ĐỘNG

Nếu ngón tay đau và cứng, cố gắng làm ấm trước khi tập. Có thể chườm ấm hay cho tay vào nước ấm 10 phút. Để có cảm giác ấm sâu, bạn xoa ít dầu ăn vào tay, mang găng cao su, nhúng vào nước ấm. Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

NẮM TAY

Bài tập bàn tay và ngón tay làm tăng sức mạnh bàn tay của bạn, tăng khả năng vận động và giúp giảm đau. Căng bàn tay hết sức cho đến khi bạn thấy chặt, không đau:

Nhẹ nhàng nắm tay lại, ngón cái để trước, giữ 30 - 60 giây, sau đó bung rộng các ngón tay. Làm cả 2 bàn tay, lặp lại 4 lần. Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

CĂNG NGÓN TAY

Úp bàn tay xuống bàn phẳng, nhẹ nhàng làm phẳng lòng bàn tay xuống mặt bàn phẳng (chú ý không dùng lực của các khớp ngón tay, cổ tay), giữ 30-60 giây, lặp lại 4 lần, làm 2 tay.

Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

MÓNG VUỐT

Giúp cải thiện tầm vận động khớp ngón tay.

Giữ 2 tay trước mặt, lòng bàn tay hướng về phía bạn.

Co các ngón tay sao cho đầu móng chạm vào gốc ngón, lúc này trông giống như kiểu 
“móng vuốt”.

Giữ 30 - 60 giây rồi thả ra. Lặp lại 4 lần mỗi tay.

Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

TĂNG SỨC NẮM

Bài tập này giúp bạn mở nắm cửa dễ dàng hơn, cầm vật tránh bị rơi.

Giữ trái banh mềm trong lòng bàn tay, ép càng chặt càng tốt.

Giữ vài giây rồi thả ra.

Lặp lại mỗi tay 10-15 lần, 2-3 lần/tuần nhưng nên nghỉ khoảng 2 ngày giữa các lần tập. Không tập bài tập này khi ngón cái bị tổn thương. Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

TĂNG SỨC KẸP

Bài tập này làm tăng sức cơ của ngón tay và ngón cái giúp bạn mở khóa, mở gói thức ăn dễ dàng hơn.

Kẹp một trái banh mềm giữa các ngón tay.

Giữ 30-60 giây.

Lặp lại 10-15 lần cả 2 tay, 2-3 lần/tuần nhưng nên nghỉ khoảng 2 ngày giữa các lần tập. Không tập bài tập này khi ngón cái bị tổn thương. Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

NÂNG NGÓN TAY

Tăng tầm vận động và độ linh hoạt ngón tay. Đặt tay trên bàn phẳng, lòng bàn tay úp. Nhẹ nhàng nâng ngón lên rồi từ từ hạ xuống. Có thể nâng cùng lúc ngón cái và các ngón tay khác. Tập 8 - 12 lần mỗi ngón. Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

DẠNG NGÓN CÁI

Giúp nắm và nâng các vật nặng như bình nước, can nước... Đặt tay trên bàn phẳng, dùng dây đàn hồi (dây cao su) quàng vào tay chỗ gốc ngón cái. Nhẹ nhàng đưa ngón cái xa các ngón, càng xa càng tốt. Giữ 30-60 giây rồi trở lại vị trí cũ. Lặp lại 10-15 lần mỗi bàn tay, 2-3 lần/tuần, nên nghỉ 2 ngày giữa các lần tập. Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

CO NGÓN CÁI

Tăng tầm vận động ngón. Bàn tay trước mặt, hướng lên trên. Đưa ngón cái ra ngoài càng xa càng tốt, sau đó đưa ngón cái chạm vào gốc ngón út. Giữ 30-60 giây. Làm 4 lần mỗi ngón. Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

CHẠM NGÓN CÁI

Tăng tầm vận động ngón cái, giúp ích cho những vận động như lấy muỗng nĩa, bàn chải đánh răng, viết...

Giữ bàn tay trước mặt, cổ tay. Nhẹ nhàng chạm ngón cái vào từng ngón tay, từng ngón một, tạo hình chữ O. Giữ 30 - 60 giây, lặp lại 4 lần mỗi tay. Làm thế nào để có bàn tay khỏe?

CĂNG NGÓN CÁI

Đưa tay ra trước, lòng bàn tay hướng về phía bạn, nhẹ nhàng chạm đầu ngón cái vào gốc ngón tay số 2, giữ 30-60 giây, buông lỏng rồi lặp lại 4 lần. Sau đó tiếp tục đưa tay ra trước, lòng bàn tay hướng về phía bạn, nhẹ nhàng đưa ngón cái ngang lòng bàn tay bằng cách co mô của ngón cái. Giữ 30-60 giây, lặp lại 4 lần.

Nguồn:tuoitre.vn

Làm cách nào xóa tan mỏi mệt khi ngồi lâu trong văn phòng?

Không cần bỏ quá nhiều công sức, chỉ cần mỗi ngày làm việc bạn bỏ ra chút thời gian để thực hiện những động tác dưới đây, sẽ giúp bạn tránh được không ít những căn bệnh liên quan đến việc ngồi quá lâu trong văn phòng như sai khớp, đau nhức cơ thể, đau thắt lưng, vai và hông bị chèn ép... Làm cách nào xóa tan mỏi mệt khi ngồi lâu trong văn phòng?

1. Bài tập kéo dãn lưng

Thông thường, ngoài những nhu cầu sinh hoạt và công việc, các chị em thường chỉ ngồi lỳ một chỗ trước máy tính tại văn phòng làm việc. Điều này lâu dài sẽ làm cứng khớp lưng của bạn. Để tránh tình trạng này, hãy thực hành thường xuyên bài tập dưới đây giúp tăng tính linh hoạt và kích hoạt cơ bắp: Các bước thực hiện: - Đứng hai chân rộng bằng vai, giơ tay lên trên đầu với khoảng cách rộng bằng vai. - Mở rộng chân trái và nhấn ngón chân xuống sàn. - Với tay phải về phía trần nhà giống như bạn muốn kéo cánh tay ra khỏi vai. - Căng toàn bộ cơ thể. - Mở rộng các ngón tay. - Thở ra khi kéo dãn, hít vào khi hạ xuống để chuyển bên. - Lặp lại 6-8 lần mỗi bên.

2. Bài tập kéo dãn ngực và vai

Bài tập kéo dãn ngực và vai sẽ giúp cân bằng các khớp nối vai và mở ngực, tranh việc ngồi làm việc tại bàn quá lâu dẫn đến tình trạng co rút đầu và vai, lâu dài có thể dẫn đến hạn chế vận động cột sống và vai nghiêm trọng. Các bước thực hiện: - Đứng ép sát một bên thân vào tường và đặt tay lên tường, giữ tay ngược ra sau và thấp hơn vai. - Ép cánh tay vào tường và bước chân (phía ngược với tay) lên trước một chút để vặn mình. - Xoay toàn bộ cơ thể đến khi thấy căng ở vai và bắp tay. - Thở ra khi kéo dãn. Giữ ở vị trí này 10-15 giây và đổi bên. - Lặp lại 4-6 lần mỗi bên.

3. Bài tập căng cơ mông

Tư thế ngồi lâu không phù hợp với cơ thể tự nhiên, làm yếu cơ thể ở phần lưng dưới và mông, trong khi đó lại làm co phần phía trước và mặt bên của hông, dẫn đến đau lưng dưới và biến dạng vùng cột sống thắt lưng. Việc kéo dãn mông, thả lỏng phần bên và phần sau của hông mang lại sự cân bằng và nhanh nhẹn cho hông. Các bước thực hiện: - Ngồi thẳng lưng và đặt bàn chân trên sàn nhà. - Đặt một chân trên đầu gối của chân kia. - Duy trì vị trí ngồi thẳng, nhấn nhẹ đầu gối của chân co lại nhưng nhấn dứt khoát cho đến khi cảm thấy căng cạnh đùi - Thở ra trong khi vẫn ấn đầu gối. - Giữ vị trí 10-15 giây và đổi bên. - Lặp lại 4-8 lần mỗi bên.

4. Một số động tác hỗ trợ khác

- Ngoài ra, bạn cũng nên tập thói quen rời khỏi ghế cứ mỗi 30 hoặc 60 phút và dành ra từ 5 đến 10 phút để đi loanh quanh làm những công việc lặt vặt như photocopy, chuyển văn bản, gặp và trao đổi công việc trực tiếp với đồng nghiệp hoặc thậm chí là đi lấy một cốc nước. - Ưu tiên sử dụng thang bộ trong hoạt động hàng ngày tại văn phòng, chỉ nên sử dụng thang máy trong các trường hợp cần thiết. - Ngồi thẳng lưng và thực hiện những động tác nhỏ như vươn vai, xoay người… sẽ giúp tiêu hao được nhiều năng lượng hơn và bớt mệt mỏi. - Bạn nên chọn một môn thể thao để tham gia thường xuyên giúp tăng cường sức khỏe và tiêu hao được nhiều năng lượng.

Mguồn: 24h.com.vn

Ký sinh trùng gây bệnh Leishmaniasis

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng tránh dịch bệnh Mỹ (CDC), Leishmaniasis là bệnh do loại trùng roi leishmania ký sinh ở đường máu và hệ lưới - mô bào gây ra, lây lan qua vết cắn của ruồi cát nhiễm trùng. Bệnh được tìm thấy ở 90 nước, chủ yếu thuộc khu vực Trung Đông, châu Phi, một phần châu Á và châu Mỹ. Có nhiều loại leishmaniasis, trong đó phổ biến nhất là leishmaniasis da gây lở loét và leishmaniasis nội tạng phá hủy lá lách, gan, tủy xương. Ký sinh trùng gây bệnh Leishmaniasis Thông thường, thời gian ủ bệnh khoảng từ 3 đến 6 tuần. Ban đầu ở vết ruồi đốt sẽ xuất hiện nốt sần đỏ sau chuyển thành mụn loét có bờ nổi lên lởm chởm, đáy lõm sâu có mô mọc thành hạt, xung quanh là vùng da dày, cứng. Ký sinh trùng sẽ tiếp tục phát triển, sinh sản, liên tục tấn công vào tế bào lành bên cạnh. Các triệu chứng khác của bệnh bao gồm như tiêu chảy, sốt cao, suy nhược... tuy nhiên nhiều trường hợp bệnh nhân không biểu lộ triệu chứng nào.
Vết lở loét ngoài da do trùng roi leishmania gây ra

May mắn không gặp biến chứng, vết loét sẽ thành sẹo lõm sau 2-12 tháng. Còn nếu không được chữa trị kịp thời, tỷ lệ bệnh nhân tử vong là 100% trong vòng 3-20 tháng. Leishmania rất dễ hoành hành trong điều kiện kém vệ sinh. Người ở mọi lứa tuổi đều có thể nhiễm bệnh, đặc biệt là cư dân sinh sống ở vùng ngoại ô. Nguy cơ lây lan cao nhất vào thời gian từ hoàng hôn đến bình minh khi ruồi cát hoạt động mạnh.

Theo ước tính, thế giới có khoảng 700.000-1,2 triệu ca mắc leishmaniasis da. Đối với leishmaniasis nội tạng, con số này là 200.000-400.000. Hiện các nhà khoa học vẫn chưa tìm được phương thức điều trị hiệu quả cũng như văcxin phòng ngừa căn bệnh này.

Nguồn: vnexpress.net

Tư thế đứng không đúng gây đau lưng

Theo Hiệp hội nắn xương khớp (Anh), tư thế đứng của phụ nữ quyết định cơn đau lưng của người đó. Trong đó, tư thế đầu nghiêng về phía trước dễ bị đau lưng nhất.

Một cuộc khảo sát trên với 1.200 phụ nữ tham gia và chủ yếu nhắm vào đối tượng là phụ nữ có hình dáng trái táo với vòng ngực “khủng”.

Theo đó, 1/4 số phụ nữ bị đau kéo dài từ một đến ba ngày bắt đầu ở tuổi tương đối trẻ, tuổi 34. Tư thế “tháp nghiêng” - đầu nghiêng về phía trước là tư thế đau lưng nhất. Tư thế “chiếc cầu” - lưng hình cung là tư thế tệ nhất thứ hai, theo sau là tư thế “cái thìa” - lưng cong và vai tròn.

Những người giữ lưng thẳng hầu hết tránh được cơn đau lưng. Tư thế hoàn hảo nhất để ngừa đau lưng là tai, vai, hông, đầu gối và mắt cá chân thẳng hàng. Tư thế đứng không đúng gây đau lưng Theo các nhà nghiên cứu, những người muốn cải thiện cơn đau lưng và các triệu chứng đau cổ nên thử tưởng tượng họ có một sợi dây treo thẳng từ tai đến mắt cá chân, và cố giữ sợi dây dọc thẳng ở phần giữa của các phần cơ thể gồm tai, vai, hông, đầu gối và mắt cá chân. Để làm điều này cần đứng một cách thoải mái và sau đó nhẹ nhàng thóp cơ bụng. Khi ngồi, trọng lực nên tập trung vào tai, vai và hông.

Nguồn: thanhnien.com.vn

Tác hại của cảm xúc tiêu cực

Gần đây, các chuyên gia y tế còn lên tiếng cảnh báo những cảm xúc tiêu cực còn ảnh hưởng không tốt đối với sức khỏe tim mạch.

Giận dữ và thù địch

Theo một nghiên cứu của Đại học Sydney (Úc), nguy cơ đau tim thường tăng cao trong vòng 2 giờ sau khi xảy ra cơn giận dữ dội. Theo Indiatimes, giận dữ và thù địch liên tục khiến huyết áp tăng, từ đó dễ dẫn đến đau tim hoặc đau ngực nặng.


Lo lắng

Lo lắng là tâm trạng bình thường, nhưng những người thường xuyên bị rối loạn lo âu với cường độ cao là điều vô cùng nguy hiểm.

Rối loạn lo âu làm tăng đáng kể nguy cơ bị mắc bệnh tim mạch, cũng như nâng cao tỷ lệ tử vong do đau tim. Theo nghiên cứu từ Đại học Sydney, lo lắng quá nhiều được liên kết với nguy cơ đau tim cao gấp 9,5 lần trong vòng 2 giờ sau khi xảy ra lo lắng. Stress Căng thẳng mạn tính ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và có thể gây ra các vấn đề liên quan đến tim mạch. Đối phó trước một tình huống căng thẳng, cơ thể sẽ phản ứng bằng cách phát hành hoóc môn adrenaline, khiến nhịp thở, nhịp tim và huyết áp tăng lên. Đây chính là những phản ứng vật lý để chuẩn bị đối phó với tình huống căng thẳng theo hướng chiến đấu hay bỏ chạy.

Theo các chuyên gia tim mạch, căng thẳng mạn tính là nguyên nhân làm tăng nhịp tim và huyết áp, từ đó gây tổn hại cho các thành động mạch.

Bệnh tiểu đường và bệnh tim - liên kết gây chết người

Lượng đường trong máu liên tục tăng cao sẽ làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ. Không kiểm soát được lượng đường trong cơ thể, các mạch máu dễ bị tổn thương do xơ vữa động mạch và cao huyết áp.

Tim mạch và tiểu đường là hai căn bệnh vô cùng nguy hiểm và có liên hệ mật thiết với nhau. Vì vậy, bệnh nhân tiểu đường cần phải nhờ bác sĩ tư vấn để giúp giảm nguy cơ đau tim và xác định các vấn đề trước khi nó trở nên xấu hơn.

Bộc phát cơn đau tim là điều phổ biến và nó có thể tác động đáng kể đến sức khỏe tim mạch. Do đó, chẩn đoán bệnh tim đúng thời điểm có thể giúp ngăn ngừa các biến chứng ở giai đoạn sau.

Nguồn: thanhnien.com.vn

Tiêu chuẩn Good Medical Practice - Thực hành tốt khám chữa bệnh dành cho bác sĩ

Tiêu chuẩn Good Medical Practice - Thực hành tốt khám chữa bệnh dành cho bác sĩ

Tiêu chuẩn Good Medical Practice - Thực hành tốt khám chữa bệnh dành cho bác sĩ

An toàn lao động: Đề phòng và xử trí ngộ độc khí CO

An toàn lao động: Đề phòng và xử trí ngộ độc khí CO Monoxyt cacbon (CO) là một loại khí không gây kích thích, không vị, không mùi, được sinh ra do sự đốt cháy không hoàn toàn các chất có thành phần carbon như: than, dầu diezen và các chất đốt khác… Nguồn CO trong môi trường còn là khói thuốc lá, khói thải của xe hơi, đun nấu, sưởi bằng than. Một số hóa chất như chlorur mythylen được chuyển thành CO trong cơ thể.

CO xâm nhập cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp... Các tổn thương đầu tiên của nhiễm độc CO xảy ra với hệ thần kinh trung ương (vỏ não, nhân dưới vỏ não, đồi thị) kéo theo tổn thương cả thần kinh ngoại biên. Bên cạnh sự phát triển các tổn thương thần kinh, CO còn gây rối loạn tuần hoàn mạch, làm tăng tính thấm của mạch máu, nhất là các mao mạch, gây xuất huyết ở hàng loạt các cơ quan: não, phổi, đường tiêu hóa.

Biểu hiện

Nhiễm độc cấp tính: Các triệu chứng nhiễm độc tùy theo mức độ nặng, nhẹ phụ thuộc vào nồng độ CO trong không khí, thời gian tiếp xúc và đặc điểm mẫn cảm của từng cá thể và chủ đạo là các biểu hiện tổn thương thần kinh trung ương.

Thể nhẹ: Bệnh nhân cảm thấy nặng đầu, đau nhói hai bên thái dương và vùng trán, choáng váng, ù tai, hoa mắt, xa xẩm mày mặt, run chân tay, đau thắt ngực, mệt, buồn nôn, nôn. Da và niêm mạc của bệnh nhân hồng hào. Nhịp tim, mạch nhanh, thở nhanh, rối loạn.

Nếu được chuyển ra khỏi khu vực ô nhiễm CO, được thở không khí giàu oxy, các biểu hiện bệnh thuyên giảm dần, bệnh nhân có thể khỏe mạnh trở lại sau 1-2 ngày.

Đối với công nhân đã có bệnh tim mạch hoặc bệnh mạch máu ở não, có chứng đột quỵ (stroke), cơn đau tim, nhồi máu cơ tim, bệnh có thể nặng lên khi chỉ mới tiếp xúc với một lượng CO hơi tăng. Sự tiếp xúc mạn tính với lượng CO thấp có thể gây biến đổi nhẹ về thần kinh, tăng huyết khối và ở phụ nữ mang thai có những biến đổi ở bào thai.

Thể nặng: Các triệu chứng nhiễm độc có thể kéo dài vài ngày, bệnh nhân thờ ơ, vô cảm, dần chuyển sang mê sảng, suy giảm, mất trí nhớ, co giật cơ, ngất, đồng tử giãn, phản xạ yếu với ánh sáng, giảm phản xạ cơ-gân, cứng gáy. Thở nông, nhanh, mạch nhanh, yếu, giảm trương lực cơ, đặc biệt là chi dưới, bệnh nhân không đứng được, hai chân run, co giật, chuyển sang liệt không đi được. Nếu bệnh nhân mê sảng lâu (trên 48 giờ), tiên lượng xấu. Trong các trường hợp thuận lợi, bệnh nhân tỉnh dần, khi đó có các biểu hiện bứt rứt, kích động.

Khi khám thấy viêm họng, phù nề thanh quản, thở rít, sau 2-3 ngày có thể thấy triệu chứng viêm phế quản-phổi, tổn thương do thiếu oxy mô phổi, xuất huyết; rối loạn nhịp tim, nhịp nhanh, huyết áp tụt, thiếu máu cơ tim; ban đỏ, mề đay, hoại thư.

Nhiễm độc mạn tính

Các triệu chứng nhiễm độc CO mạn tính không điển hình, chỉ có giá trị khi phối hợp với các yếu tố tiếp xúc hay hoàn cảnh phát sinh bệnh. Chủ yếu là các triệu chứng liên quan tới tổn thương thần kinh.

Nhức đầu thường là dấu hiệu đầu tiên, rất hay gặp, đau nhói từng cơn dữ dội. Đau đầu tăng trong ngày lao động, nhiều nhất là vào cuối ca, trong suốt tuần lao động và giảm bớt đau trong ngày nghỉ cuối tuần; bệnh nhân có cảm giác đứng không vững, thể lực giảm sút; chóng mặt.

Ngoài ra còn gặp các triệu chứng khác như: rối loạn tiêu hóa (ăn không ngon, hay buồn nôn), ho, khó thở gắng sức, hồi hộp, lo âu, đau vùng tim, hay buồn ngủ, rối loạn cảm giác, rối loạn thị giác: ruồi bay, ám điểm, biến đổi vi trường.

Các rối loạn do nhiễm độc CO nghề nghiệp không thể hết được nếu còn tiếp tục tiếp xúc. Bệnh giảm nhanh khi ngừng tiếp xúc, các rối loạn chức năng giảm đi rõ rệt vào tuần thứ 2-3, bệnh khỏi trong vòng 1-2 tháng.

Dự phòng ngộ độc CO cách nào?

Lắp đặt hệ thống thông gió, hút bụi, hơi khí độc nơi sản xuất; Giám sát thường xuyên nồng độ CO trong không khí môi trường lao động đối với các ngành nghề có nguy cơ nhiễm độc CO; Cung cấp oxy đầy đủ khi đốt các vật liệu có cacbon sẽ giảm sự phát sinh CO. Thông gió đối với lò. Nơi xảy ra hỏa hoạn, phải có trang bị phòng hộ, có dụng cụ thở; Trang bị mặt nạ cho công nhân làm việc ở những vùng ô nhiễm CO cao.

Xử trí thế nào?

Phải đưa nạn nhân ra khỏi vùng tiếp xúc cho thở oxy nhiều lần trong ngày (3-4 lần/ngày, mỗi lần 10-20 phút).

Dùng oxy cao áp có nhiều vấn đề phải giải quyết. Ðộc tính của oxy, tính gây ngủ của nitơ và bệnh giảm áp có thể xảy ra. Nếu dùng oxy cao áp để điều trị nhiễm độc CO, cần phải để nạn nhân thở oxy 100% trong thời gian chuyển tới phòng tăng áp.

Nạn nhân nhiễm độc CO phải được theo dõi chặt chẽ, đề phòng phù não nặng có thể xảy ra trong vài giờ. Tổn thương nhẹ hệ thần kinh, hệ tim mạch và thai có thể xảy ra nếu có tình trạng giảm oxy tế bào.

Theo TS. Nguyễn Văn Sơn
http://suckhoedoisong.vn

Bẫy chuột bằng chai nước suối

Hãy xem hiệu quả bẫy chuột của chai nước suối


Đoạn video bên dưới hướng dẫn bạn về cách thức thực hiện một cái bẫy chuột bằng chai nước suối.


Nguồn: http://motthegioi.vn

Giun tấn công não

Một khi xâm nhập cơ thể, giun sán có thể di chuyển khắp nơi - từ mắt, tế bào và thậm chí xông thẳng vào não. Chúng đẩy giới bác sĩ vào tình trạng bối rối khi phát hiện quá trình di cư bất hợp pháp của giun và bắt đầu hút chất dinh dưỡng từ cơ thể người. Tuy nhiên, trường hợp tệ nhất là giun có thể chui vào não. “Nó đi từ bán cầu não này sang bán cầu não khác... rất hiếm khi có thứ gì di chuyển trong não”, theo Đài CNN dẫn lời bác sĩ Effrossyni Gkrania-Klotsas kể về trường hợp một bệnh nhân Anh bị phát hiện chứa sán dây trong đầu vào năm 2013.
Hình ảnh cho thấy giun làm tổ trong não

Đây là lần đầu tiên sán sơ mít xuất hiện tại Anh. Cách đó 4 năm, người này nhập viện vì đau đầu, và các bác sĩ ở Bệnh viện Addenbrookes tại Cambridge tiến hành điều trị lao cho đối tượng. Khi nhập viện lần nữa, bệnh nhân xuất hiện triệu chứng mới, như co giật và chân yếu đi. Lúc này bác sĩ không thể tin vào mắt mình khi chứng kiến một con vật lạ đang ngo ngoe trong não bệnh nhân. Hóa ra bệnh nhân đã nhiễm sán dây và phương pháp duy nhất là phẫu thuật não để trục xuất ký sinh trùng. Chỉ có khoảng 300 trường hợp nhiễm sán dây được ghi nhận trên thế giới từ năm 1953 đến 2013, đa phần ở châu Á và đa số ở nông thôn, có nghĩa là con số trên thực tế có thể cao hơn nhiều. Y học ít có thông tin về tình trạng giun sán, giống như nhà di truyền học Hayley Bennett thuộc Viện Sanger của Quỹ Wellcome ở Cambridge thừa nhận: “Những loài giun này khá bí ẩn. Chúng tôi chỉ biết chúng có chu kỳ sống hết sức phức tạp”. Dạng trưởng thành của sán dây chỉ xuất hiện trong ruột chó, mèo, nhưng trứng giun có thể nhiễm vào nước từ chất thải. Kết quả là dạng ấu trùng của giun sán có thể bám vào các loài giáp xác nhỏ hoặc ếch, rắn. Ở dạng này, chúng có thể tấn công người qua quá trình ăn uống hoặc tiếp xúc trực tiếp với động vật nhiễm giun. Bệnh nhân ở Cambridge được cho là đã lỡ uống nước khi bơi trong hồ có ấu trùng giun. Từ đó, ấu trùng tấn công thẳng đến não bộ hoặc hoành hành đâu đó trong cơ thể. Hậu quả của tình trạng này có thể phát triển từ tổn hại mô, gây mù lòa, liệt hoặc thậm chí tử vong, theo chuyên gia Bennett.

Có nhiều loại sán dây, nhưng 3 trong số đó có thể chiếm cứ bộ não. Chuyên gia Helena Helmby của Trường Sức khỏe và y nhiệt đới London cảnh báo về sự nguy hiểm của sán dải heo, tên khoa học là Taenia Solium. Nó có thể lây nhiễm ở người qua 2 con đường, một là ăn thịt heo mang mầm bệnh chưa nấu chín, và sán trưởng thành sẽ phát triển trong ruột; thứ hai là dạng ấu trùng khi tiếp xúc với phân nhiễm sán. Nếu ấu trùng xâm nhập vào hệ thần kinh, bao gồm não, nó có thể gây ra tình trạng nhiễm ấu trùng sán dải heo ở não. Nhiễm sán dạng này thường gây ra động kinh, và gần 1/3 số trường hợp động kinh ở những nước phổ biến nạn sán, như tại Nam Mỹ, châu Phi và châu Á, đều bị tình trạng nhiễm ấu trùng sán dải heo ở não, theo Tổ chức Y tế thế giới.

Có thể dùng thuốc tẩy giun cư trú trong ruột, nhưng khi lên đến não thì chỉ còn cách phẫu thuật. Do nhiễm sán ở não không phổ biến, nên các hãng dược không điều chế thuốc trị giun lên não. Với việc chuỗi gien di truyền của sán, nhóm chuyên gia Bennett hy vọng có thể tìm hiểu cơ chế hoạt động của chúng để hỗ trợ chẩn đoán và điều trị trong tương lai, bao gồm sử dụng thuốc hiện có trên thị trường để trị giun não.

Nguồn: thanhnien.com.vn

Nước tăng lực không phù hợp với người cao huyết áp

Nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Trường cao đẳng Tim mạch, San Diego, Mỹ công bố ngày 14/3/2015 cho thấy thức uống tăng lực có thể làm tăng huyết áp, thậm chí nguy hại cho sức khỏe. TS. Anna Svatikova, trưởng nhóm nghiên cứu, cùng các cộng sự tiến hành thực nghiệm đối với 25 người tình nguyện trong độ tuổi từ 19 - 40, họ uống nước tăng lực và giả dược vào các thời điểm khác nhau sau đó được đo nhịp tim, huyết áp trước và sau khi uống. Kết quả cho thấy huyết áp tâm thu tăng hơn 3% ở người uống nước tăng lực so với người uống giả dược. Tỷ lệ rõ rệt tăng gấp 2 lần giữa người không thường uống cà phê hay đồ uống chứa caffein mỗi ngày so với những người thường xuyên uống. Theo GS. Sachin Shah, chuyên về dược học tại Đại học Thái Bình Dương, Stockton, California, người không tham gia vào nghiên cứu: “Ngay cả sự gia tăng nhỏ trong huyết áp cũng có thể dẫn đến hậu quả chết người tùy thuộc vào độ tuổi và bệnh sử của bạn”. Đặc biệt đối với những người tiền sử mắc các bệnh về tim mạch, đồ uống có chất cafein, taurine hoặc các thành phần khác được tìm thấy có thể làm tăng huyết áp và ảnh hưởng tiêu cực đến bệnh tim.

Nguồn: dantri.com.vn

Tác hại của việc ngồi lâu

Ngồi nhiều làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, tim mạch

Một nghiên cứu trên Tạp chí Dịch tễ học (Mỹ) dựa trên thông tin của 185.000 người trong 14 năm cho thấy, thời gian ngồi liên quan đến tỷ lệ tử vong, không phụ thuộc vào mức độ hoạt động thể chất. Theo đó, ngồi nhiều có hại tương đương với việc hút thuốc lá, làm tăng nguy phát triển bệnh tiểu đường, tim mạch và một số loại ung thư...

Các nhà khoa học giải thích, cơ thể con người tiến hóa để phù hợp với hoạt động đứng và vận động nhiều. Khi bạn ngồi trên ghế, cơ thể gấp khúc, hông thắt chặt, xương sống gần như cứng lại khiến cho máu khó lưu thông. Điều đó có thể ảnh hưởng tới chức năng của não, tim mạch thậm chí tăng nguy cơ đông máu.

Một nghiên cứu khác do Viện Tiểu đường quốc tế tại Mebourne (Úc) thực hiện cho thấy dù bạn tập thể dục trong suốt 2 giờ cũng không bù đắp được thiệt hại cho sức khỏe nếu bạn ngồi liên tục suốt 22 giờ sau đó. Theo đó, những người ngồi nhiều giờ tại nơi làm việc và sau đó lại ngồi trước truyền hình hoặc máy vi tính ở nhà đối diện với nguy cơ tăng cao mắc các bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường tuýp 2 và béo phì.

Hãy tìm cách giảm thời gian ngồi

Các chuyên gia cho biết nên thay đổi tư thế ngồi thường xuyên để các cơ bắp vận động và tăng lưu thông khí huyết.

Dưới đây là một số biện pháp để giảm thời gian ngồi.

- Cách 30 phút lại vận động: Bạn có thể thay đổi thói quen ngồi nhiều bằng cách cứ 30 phút làm việc bạn lại dành khoảng 5 phút vận động, có thể đứng dậy, di chuyển để đọc báo, nghe điện thoại hay uống nước hoặc đi ra ngoài hít thở không khí trong lành.

- Thường xuyên thay đổi tư thế làm việc: Không nên giữ mãi một tư thế ngồi, bạn có thể thay đổi tư thế làm việc, vươn vai, vươn mình… Làm như thế không chỉ phòng ngừa được các tác hại kể trên mà còn giúp bạn làm việc hiệu quả hơn, năng suất hơn nữa đấy.

- Ăn trong tư thế đứng: Nếu như công việc đã khiến bạn thường xuyên phải ngồi thì khi về nhà, bạn nên hạn chế sinh hoạt, ăn uống trong tư thế ngồi. Bạn có thể đứng khi xem phim, đứng khi ăn bữa sáng hoặc trưa... Đó đều là những thao tác giản đơn tốt cho sức khỏe của bạn.

- Hoạt động nhiều hơn: Mỗi ngày hãy dành 15 phút ngồi trên sàn nhà để cùng chơi, đọc sách với con của bạn, hoặc xem chương trình tivi yêu thích. Điều này sẽ tăng thêm tổng thời gian hoạt động mỗi ngày.

- Đẩy ghế xa bàn trước khi đi ngủ: Sáng hôm sau, vị trí bất thường của chiếc ghế sẽ nhắc nhở và khiến bạn vận động thêm một chút để di chuyển vật dụng về đúng vị trí.

- Điều quan trọng nhất để không ngồi nhiều vẫn tùy thuộc ở ý thức của mỗi người. Nếu như lười vận động, chỉ thích ngồi thì việc thay đổi là vô cùng khó. Nhưng nếu như bạn thật sự muốn thay đổi, thì hãy luôn tạo cơ hội cho bản thân được vận động và thay đổi tư thế thường xuyên nhằm duy trì cơ thể khỏe mạnh.

Nguồn: 24h.com.vn