Hiển thị các bài đăng có nhãn Môi trường. Hiển thị tất cả bài đăng

Tiêu chuẩn ISO/FDIS 14001:2015 (Bản dịch Tiếng Việt)

Tiêu chuẩn ISO/FDIS 14001:2015 (Bản dịch Tiếng Việt) - Hệ thống quản lý môi trường - Các yêu cầu và hướng dẫn áp dụng

Cập nhật: Bản dịch ISO 14001:2015 xem tại đây

Tiêu chuẩn ISO/FDIS 14001:2015 (Bản dịch Tiếng Việt) - Hệ thống quản lý môi trường - Các yêu cầu và hướng dẫn áp dụng

Tiêu chuẩn ISO/FDIS 14001:2015 - Hệ thống quản lý môi trường - Các yêu cầu và hướng dẫn áp dụng

Tiêu chuẩn ISO/FDIS 14001:2015 - Hệ thống quản lý môi trường - Các yêu cầu và hướng dẫn áp dụng

Cập nhật: Bản dịch ISO 14001:2015 xem tại đây

Tiêu chuẩn ISO/FDIS 14001:2015 - Hệ thống quản lý môi trường - Các yêu cầu và hướng dẫn áp dụng

Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 đã chuyển đến giai đoạn FDIS

Cập nhật: Bản dịch ISO 14001:2015 xem tại đây

Một phiên bản mới của tiêu chuẩn nổi tiếng nhất thế giới về quản lý môi trường, ISO 14001, đã được chuyển sang giai đoạn FDIS (bản thảo quốc tế cuối cùng). Dự kiến tiêu chuẩn ISO 14001:2015 sẽ được ban hành chính thức vào tháng 9-2015 sau khi được các thành viên bỏ phiếu thông qua. Tư vấn Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 Tư vấn Tiêu chuẩn ISO 14001:2015
Nguồn: iso.org

TCVN ISO 50001 - Tiêu chuẩn về hệ thống quản lý năng lượng

Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 bước vào giai đoạn cuối cùng của quá trình sửa đổi.

Cập nhật: Bản dịch ISO 14001:2015 xem tại đây

Tiêu chuẩn ISO 14001 về hệ thống quản lý môi trường đã tiến đến Bản dự thảo cuối cùng tiêu chuẩn quốc tế (FDIS) - một giai đoạn tiếp theo trong quá trình sửa đổi tiêu chuẩn ISO - theo kết quả ấn tượng của việc bỏ phiếu phê duyệt ấn tượng với dự thảo mới nhất là 92% vào cuối năm 2014. Mỗi 3-5 năm, tất cả các tiêu chuẩn ISO đều trải qua một cuộc xem xét để đảm bảo chúng phù hợp và được cập nhật. Trong cuộc phỏng vấn video này, Tiến sĩ Anne-Marie Warris, Chủ tịch tiểu ban ISO rà soát ISO 14001, giải thích những thay đổi chính và các bước tiếp theo
"ISO 14001 là một tiêu chuẩn môi trường quan trọng", Anne-Marie nói. "Một là kéo tất cả các vấn đề môi trường về cùng với nhau, có thể là nước, không khí, khí hậu, đất đai, và yêu cầu các tổ chức để suy nghĩ về tất cả trong một cách chính thức."
Phiên bản sửa đổi hiện hành là một bước quan trọng trong sự phát triển của tiêu chuẩn và chúng ta sẽ thấy một số cải tiến dựa trên phiên bản trước đó. Một số những thay đổi này dựa trên một cuộc khảo sát người sử dụng tiến hành bởi ban tổ chức và đã nhận được hơn 5000 phản hồi từ 110 quốc gia. Kết quả là, phiên bản mới sẽ tập trung nhiều hơn vào:
  • Quản lý chiến lược về môi trường
  • Lãnh đạo
  • Bảo vệ môi trường
  • Hiệu suất môi trường
  • Tư duy về vòng đời
  • ISO 14001 hiện đang ở giai đoạn cuối cùng Dự thảo tiêu chuẩn quốc tế. Điều này có nghĩa rằng các chuyên gia rà soát tiêu chuẩn sẽ cân nhắc tất cả các ý kiến nhận được trong quá trình tham vấn công chúng trước đó (DIS) tại cuộc họp tiếp theo của họ ở Tokyo vào ngày 02-ngày 07 Tháng Hai năm 2015. Kết quả sẽ là một dự thảo cuối cùng, sẽ được đưa ra bỏ phiếu . Khi được chấp nhận, tiêu chuẩn sẽ được công bố. Phiên bản mới được dự kiến vào cuối năm 2015.
    Nguồn: iso.org

    Tiêu chuẩn Walmart áp dụng cho các nhà cung cấp - Phiên bản 2013

    Đã có phiên bản 2014, xem tại đây
    Bạn đọc cần lưu ý: Đây không phải tài liệu của Walmart, tài liệu này được Phạm Xuân Tiến's Blog chuyển ngữ Tiếng Việt nhằm hỗ trợ các đơn vị đang tìm kiếm cách tiếp cận Walmart hoặc đang trải qua các đợt đánh giá của Walmart như một tài liệu tham khảo mà thôi.


    Tiêu chuẩn Sedex - SMETA: Best Practice Guidance-4-Pillar-4 - Bản dịch phụ lục 1: Hướng dẫn theo điều khoản.



    Thực phẩm biến đổi gene (GM)

    TS Enright, Phó giám đốc điều hành về lĩnh vực Nông nghiệp và Thực phẩm tại Tổ chức Công nghiệp Công nghệ Sinh học (BIO), trong một hội nghị thượng đỉnh Công nghiệp Sinh học được tổ chức ở thành phố Fargo do Hành lang Nghiên cứu Thung lũng Sông Hồng (Red River Valley Research Corridor) và Khoa Nông nghiệp và Công nghệ Hệ thống Sinh học trường Đại học Bang North Dakota, Hoa Kỳ đã đưa ra nhận định: “Công nghệ sinh học (CNSH) đang được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực y tế, môi trường công nghiệp và nông nghiệp. Dù đang được chấp nhận và ứng dụng rộng rãi trong hai ngành y tế và môi trường công nghiệp nhưng việc chấp nhận CNSH trong ngành nông nghiệp thì lại không dễ dàng như vậy.”

    Để hiểu rõ hơn về CNSH, đặc biệt là về cây trồng và thực phẩm biến đổi gen có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe, môi trường, chúng ta cần phải hiểu sinh vật biến đổi gen và thực phẩm biến đổi gen là gì, những nghiên cứu nào về tác động đến sức khỏe con người và môi trường đã thực hiện trong quá trình phát triển cây trồng biến đổi gen và đánh giá của các tổ chức uy tín trên thế giới ra sao, như WHO hay FDA.

    Biến đổi gen và những nghiên cứu khoa học


    Theo Tổ chức Y tế Thế giới, cây trồng biến đổi gen (GM) được tạo ra từ “công nghệ sinh học hiện đại” (hay còn gọi theo các cách “công nghệ gen”, “công nghệ DNA tái tổ hợp”, “kỹ thuật di truyền”) cho phép những gen đơn lẻ được chọn lựa để chuyển từ sinh vật này vào sinh vật khác, cũng như giữa các loài không có họ hàng. Công nghệ này sử dụng sinh vật biến đổi gen (GMO), tức các sinh vật mang vật liệu di truyền (DNA) đã được biến đổi theo ý muốn chủ quan của con người và không theo cách thức thông thường diễn ra trong tự nhiên.

    Mục tiêu ban đầu phát triển cây trồng trên nền tảng sinh vật biến đổi gen là nhằm cải thiện khả năng bảo vệ thực vật. Các loại cây trồng biến đổi gen hiện nay trên thị trường chủ yếu nhằm mục đích tăng mức độ bảo vệ thực vật thông qua việc đưa vào khả năng đề kháng chống lại các bệnh thực vật gây ra bởi côn trùng hoặc virus hoặc do tăng sức chống chịu thuốc diệt cỏ.

    Thực phẩm chuyển gen được phát triển và mua bán ngày càng rộng rãi trên thế giới bởi những đặc tính và lợi thế nổi bật của loại thực phẩm này cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng. Người dùng có thể tiếp cận một sản phẩm mới với mức giá thấp hơn, giá trị lợi ích nhiều hơn (về độ lâu bền, giá trị dinh dưỡng hoặc cả hai). Các nhà phát triển hạt giống biến đổi gen muốn sản phẩm của họ được nhà sản xuất chấp nhận nên đã tập trung vào những cải tiến mà người nông dân (và ngành công nghiệp thực phẩm nói chung) đánh giá cao.

    Các nghiên cứu tính an toàn đối với sức khỏe con người


    Cũng theo thông tin từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng chục cơ quan khoa học danh tiếng nhất trên toàn thế giới, trong đó bao gồm Học viện Khoa học Quốc gia, Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đã nghiên cứu kỹ thuật di truyền trong suốt hơn 30 năm qua.

    Cây trồng biến đổi gen chịu sự kiểm soát gắt gao của ba cơ quan quản lý khác nhau chỉ riêng tại Mỹ. Trung bình phải mất 5 đến 10 năm để phát triển và kiểm nghiệm một loại cây trồng an toàn đối với người tiêu dùng và môi trường. Sau đó sẽ mất thêm 2 đến 4 năm để Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) của Mỹ, Bộ Nông nghiệp và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ đánh giá. Vì hầu hết nông dân Mỹ sẽ không trồng những loại cây biến đổi gen mà họ không thể xuất khẩu ra thị trường thế giới ở châu Âu, châu Á và Nam Mỹ, nên sự chờ đợi thậm chí còn kéo dài hơn để xin được phê duyệt ở nước ngoài. Do vậy, trước khi một loại cây trồng mới được bán trên thị trường, sự an toàn của nó đã được xác nhận bởi những nhà quản lý ở hàng chục các quốc gia.

    Hoạt động đánh giá những nguy cơ tiềm ẩn nào có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe của con người được thực hiện toàn diện trên 6 yếu tố, gồm ảnh hưởng sức khỏe một cách trực tiếp (độc tính); khuynh hướng gây phản ứng dị ứng (dị ứng); các thành phần cụ thể chứa chất dinh dưỡng hoặc chất độc hại; sự ổn định của gen chèn; sự ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng liên quan đến biến đổi gen và bất kỳ tác dụng không mong muốn từ kết quả của sự chèn gen. Trong các cuộc thảo luận lý thuyết với nhiều khía cạnh khác nhau, có ba vấn đề chính được tranh luận nhiều nhất là khuynh hướng gây ra phản ứng dị ứng (dị ứng), chuyển gen và lai xa.

    Trong khi đối với các loại thực phẩm phát triển theo truyền thống thường không thể kiểm tra được nguy cơ gây dị ứng thì cách thức để kiểm tra vấn đề này ở thực phẩm biến đổi gen Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) và WHO đánh giá. Và kết quả đạt được là: không có khả năng gây dị ứng nào được tìm thấy trong thực phẩm chuyển gen hiện nay trên thị trường.

    Ngoài ra, sự di chuyển của các gen từ cây trồng biến đổi gen vào cây trồng thông thường hoặc giữa những loài họ hàng trong tự nhiên (gọi tắt là "lai xa"), cũng như sự pha trộn của các loại cây trồng từ hạt giống thông thường với những hạt giống được trồng từ cây trồng biến đổi gen, có thể có tác động gián tiếp đến an toàn thực phẩm và an ninh lương thực. Theo WHO, nguy cơ này là có thật, được nhận định khi phát hiện một loại ngô chỉ được chấp thuận sử dụng làm thức ăn gia súc xuất hiện trong sản phẩm ngô cho người tiêu dùng tại Hoa Kỳ. Một số nước đã áp dụng chiến lược phân chia rõ rệt các cánh đồng trồng cây trồng biến đổi và cây trồng thông thường để hạn chế hiện tượng lai xa. Các biện pháp để giám sát sau mua bán các sản phẩm thực phẩm biến đổi gen và tính khả thi của các biện pháp này vẫn đang được thảo luận nhằm mục đích kiểm soát liên tục độ an toàn của sản phẩm thực phẩm biến đổi gen.

    Các chuyên gia cũng chỉ ra rằng, trên thực tế vẫn có khả năng tồn tại độc tố trong thực phẩm biến đổi gen, bởi vì cây trồng truyền thống và cây trồng chuyển gen chỉ khác nhau về gen quy định tính trạng mong muốn, lượng độc tố tự nhiên (nếu có) tồn tại trong cây trồng truyền thống cũng sẽ có mặt trong cây trồng chuyển gen. Tuy nhiên có một thực tế là trong thực phẩm chúng ta ăn từ xưa đến nay đều tồn tại độc tố ở hàm lượng nhất định, hầu hết ở mức độ an với người sử dụng.

    Nghiên cứu tác động với môi trường


    Việc nghiên cứu tác động đối với môi trường cần trải qua việc đánh giá về nguy cơ của cây trồng biến đổi gen đối với môi trường, những rủi ro mà môi trường có thể phải tiếp nhận. Quy trình đánh giá rủi ro bao gồm đánh giá về các đặc tính của cây trồng biến đổi gen và những ảnh hưởng, tính ổn định của các đặc tính đó trong môi trường, kết hợp cùng những đặc điểm sinh thái của môi trường nơi thử nghiệm. Đánh giá cũng bao gồm những tác động ngoài mong đợi từ kết quả của việc chèn các gen mới. Việc đánh giá an toàn đối với môi trường cần chứng minh được khả năng của sinh vật biến đổi gen.

    Việc đánh giá tính an toàn của cây trồng biến đổi gen đối với môi trương bao gồm việc chứng minh được khả năng lây lan các gen biến đổi vào quần thể hoang dã; sự lưu giữ các đặc tính của gen đã biến đổi sau khi thu hoạch; tính nhạy cảm của các sinh vật phi mục tiêu (ví dụ như các côn trùng không phải sâu bệnh) đối với các sản phẩm gen; tính ổn định của gen; tính giảm bớt về quang phổ của các cây trồng khác bao gồm mất đa dạng sinh học; và việc tăng cường sử dụng hóa chất trong nông nghiệp. Các khía cạnh an toàn môi trường của cây trồng biến đổi gen thay đổi tùy thuộc đáng kể vào điều kiện của từng địa phương.

    Báo cáo về tác động kinh tế và môi trường của cây trồng biến đổi gen gia đoạn từ 1996-2012 (GM Crops: Global Socio-Economic and Environmental Impacts 1996-2012) do PG Economics đưa ra vào đầu tháng 7 vừa qua nhận định, cây trồng biến đổi gen mang lại không những lợi ích cả về kinh tế mà còn cho cả môi trường.

    “Một nửa thu nhập và phần lớn lợi ích môi trường có được là liên quan đến thay đổi trong việc sử dụng thuốc trừ sâu và giảm lượng khí thải nhà kính ở các nước đang phát triển”, Graham Brookes, đồng tác giả của báo cáo cho biết.

    Thói quen canh tác của nông dân cũng đang giúp giảm thiểu những tác động đến môi trường nếu họ sử dụng hạt giống CNSH. Báo cáo cho biết từ năm 1996-2012, lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ được sử dụng đã giảm tới 500 triệu kg, tức 8,8%, do vậy tác động với môi trường liên quan đến việc sử dụng thuốc diệt cỏ và trừ sâu giảm tới 18,7%.

    Báo cáo cũng cho biế, lượng khí CO2 phát thải cũng giảm đi nhờ việc tiết giảm lượng nhiên liệu hóa thạch sử dụng cho các loại máy kéo. Cụ thể năm 2012, giảm được 27 tỷ kg CO2 thải vào trong bầu khí quyển - con số này tương đương với việc ngừng sử dụng 12 triệu ô tô mỗi năm.

    Tổng kết lại, theo đánh giá của WHO, “những thực phẩm chuyển gen có mặt trên thị trường hiện nay đều qua được các cuộc đánh giá rủi ro và không có khả năng gây hại cho sức khỏe người dùng. Điều này được chứng minh dựa vào kết quả tiêu thụ của phần lớn người dân tại các quốc gia phê duyệt sử dụng thực phẩm biến đổi gen.”

    Nguồn: dantri.com.vn

    Tiêu chuẩn ISO/DIS 14001:2014 - Environmental management systems — Requirements with guidance for use

    Cập nhật: Bản dịch ISO 14001:2015 xem tại đây


    Cảm ơn một người bạn đã chia sẻ tài liệu này!

    Tiêu chuẩn ISO 14001:2015 Updates (Based on Draft International Standard, DIS)

    Cập nhật: Bản dịch ISO 14001:2015 xem tại đây

    WHO đề nghị Việt Nam cấm sử dụng Amiăng


    “Cần phải hành động kịp thời để ngăn chặn việc tiếp tục sử dụng amiăng trong vật liệu xây dựng và cấm hoàn toàn tất cả các loại amiăng để bảo vệ cuộc sống, hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững và đảm bảo sự ổn định xã hội của Việt Nam”, đại diện WHO và ILO viết.
    Đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Khu vực Tây Thái Bình Dương và Đại diện Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Khu vực Châu Á Thái Bình Dương đã viết thư gửi cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để bày tỏ những lo lắng về việc tiếp tục sử dụng amiăng trắng trong vật liệu xây dựng tại Việt Nam.
    Bức thư mà đại diện WHO và ILO gửi cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.


    Bức thư có tiêu đề Bệnh tật liên quan tới amiăng và những lo ngại về việc tiếp tục sử dụng amiăng trong vật liệu xây dựng và các sản phẩm khác tại Việt Nam do Tiến sĩ Sin Young-soo, Giám đốc WHO Khu vực Tây Thái Bình Dương và ông Yoshiteru Uramoto, Giám đốc khu vực ILO Khu vực Châu Á Thái Bình Dương ký tên ngày 5/8.
    Trong bức thư của mình, đại diện WHO và ILO sau khi nói về những lý do cần phải cấm hoàn toàn việc sử dụng amiăng đã kiến nghị Việt Nam không tiếp tục sử dụng amiăng trắng sau 2020 và sớm xây dựng lộ trình để loại bỏ việc sử dụng amiăng.
    WHO và ILO cũng hứa sẽ tiếp tục hỗ trợ về mặt kỹ thuật để loại bỏ bệnh tật liên quan tới amiăng tại Việt Nam.
    Xin trích dịch nội dung chính của bức thư này:
    Chúng tôi viết thư này để thẳng thắn bày tỏ sự lo lắng của mình về việc tiếp tục sử dụng amiăng trắng trong vật liệu xây dựng và các sản phẩm khác tại Việt Nam, một vấn đề quan trọng có liên quan tới nhiều bộ ngành khác nhau.
    Amiăng trắng là nguyên nhân gây ra ung thư phổi, ung thư trung biểu mô, bệnh phổi amiăng, ung thư vòm họng và ung thư buồng trứng. Mỗi năm 107 ngàn người chết do các bệnh liên quan tới amiăng và 1,5 triệu người khác phải sống chung với khuyết tật do các bệnh liên quan tới amiăng. Amiăng được coi là chất gây ung thư nghề nghiệp độc hại nhất với hơn một nửa số ca tử vong do ung thư nghề nghiệp.
    Việt Nam là nước tiêu thụ amiăng lớn thứ 10 thế giới về số lượng và đứng thứ 7 về bình quân lượng amiăng tiêu thụ trên đầu người. Tại Việt Nam, amiăng được sử dụng trong việc sản xuất tấm lợp amiăng xi măng (tấm lợp fibro ximăng), phanh ô tô, xe máy, vật liệu cách nhiệt trên tàu, các lò hơi và các ứng dụng khác.
    Chính phủ Việt Nam từ lâu đã nhận ra sự độc hại của amiăng và đã cấm sử dụng các loại amiăng thuộc nhóm amphibole từ năm 1998. Tuy nhiên, việc sử dụng amiăng trắng vẫn tiếp tục và có dấu hiệu tăng cao những năm gần đây, kể từ khi kế hoạch giảm dần và tiến đến cấm hoàn toàn amiăng trong vật liệu xây dựng vào năm 2004 được lui tới năm 2010 và sau đó là tới năm 2020. Điều đáng nói hơn nữa là có khả năng việc sử dụng amiăng trong vật liệu xây dựng sẽ kéo dài tới năm 2030 theo kiến nghị của dự thảo Quy hoạch Quốc gia về Phát triển Vật liệu xây dựng.

    WHO và ILO khuyến cáo cấm toàn bộ các loại amiăng như biện pháp hiệu quả nhất nhằm loại trừ bệnh tật liên quan tới amiăng vì những lý do sau:

    Lý do sức khỏe cộng đồng: Các bằng chứng tiếp tục cho thấy rằng, các quốc gia đang gánh chịu bệnh tật liên quan tới amiăng tỉ lệ với việc tiêu thụ amiăng của quốc gia đó. Điều này một lần nữa khẳng định rằng, gánh nặng bệnh tật liên quan tới amiăng tại các quốc gia (đang phát triển) là bắt nguồn từ sự phục thuộc quá lớn vào amiăng trong những thập niên trước đó, bất kể những cố gắng để “sử dụng an toàn” amiăng.
    Việt Nam đã ghi nhận những trường hợp ung thư trung biểu mô. Chúng tôi đề nghị Việt Nam không trì hoãn các quyết định xa hơn để chờ tìm thêm các trường hợp khác. Các bằng chứng quốc tế về việc amiăng trắng là nguyên nhân dẫn tới các bệnh ung thư đã được chứng minh rõ ràng bởi Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC).

    Lý do kinh tế: Các sản phẩm chứa amiăng có “giá rẻ” thường được viện dẫn như là lý do để tiếp tục sử dụng amiăng, đặc biệt là trong việc cung cấp các tấm lợp giá rẻ cho người nghèo. Tuy nhiên, yếu tố “giá rẻ” cần phải được cân nhắc trong mối tương quan với những chi phí bồi thường cho các công nhân làm việc trong ngành công nghiệp amiăng do mắc các bệnh liên quan tới amiăng. Bên cạnh đó, cũng phải tính đến những khoản chi phí cho rất nhiều người, đặc biệt là những người nghèo đang phải sống trong những căn nhà sử dụng các tấm lợp độc hại. Những chi phí cho việc dỡ bỏ các vật liệu có chứa amiăng được chứng minh là rất lớn là nguyên nhân trì hoãn việc cấm amiăng ở nhiều quốc gia.
    Đã có những vật liệu thay thế amiăng được sản xuất ở quy mô công nghiệp tại Việt Nam. Công nghệ sản xuất các tấm lợp không amiăng được phát triển tại Việt Nam là một cơ hội cho giải quyết việc làm tại địa phương và cơ hội để Việt Nam xác lập vị trí trong ngành công nghiệp xanh tại khu vực. Tăng cường việc sản xuất các sản phẩm này cũng sẽ làm giảm giá của các tấm lợp không amiăng bao gồm cả việc phục vụ cho những người nghèo.
    An ninh xã hội là một nguyên nhân nữa để thông qua việc cấm hoàn toàn amiăng. Kinh nghiệm tại các quốc gia phát triển cho thấy, nhiều vụ náo động và các vụ kiện cá nhân chống lại chính phủ do chính phủ đã không bảo vệ sức khỏe cộng đồng do chấp thuận việc tiếp tục sử dụng amiăng.
    Cần phải hành động kịp thời để ngăn chặn việc tiếp tục sử dụng amiăng làm vật liệu xây dựng và cấm hoàn toàn tất cả các loại amiăng để bảo vệ cuộc sống, hỗ trợ phát tăng trưởng kinh tế bền vứng và đảm bảo sự ổn định xã hội của Việt Nam.
    Chúng tôi khuyến nghị Việt Nam không tiếp tục sử dụng amiăng trắng sau 2020 và sớm xây dựng lộ trình để loại bỏ việc sử dụng amiăng tại Việt Nam.
    Chúng ta biết rằng đã có rất nhiều tín hiệu từ các chính phủ. Đó là điều kiện công nghệ và tài chính khả thi để nhiều nhà máy có thể chuyển sang loại vật liệu và công nghệ an toàn hơn đồng thời gia tăng cơ hội xuất khẩu. Đã có hơn 50 quốc gia đã cấm hoàn toàn việc sử dụng amiăng.
    Chúng tôi tin rằng một quyết định như vậy sẽ góp phần rất lớn vào việc bảo vệ sức khỏe cho hàng ngàn công nhân và hàng triệu người khác có nguy cơ bị phơi nhiễm trong tương lai từ các sản phẩm chứa amiăng cũng như nguy cơ bệnh tật liên quan tới amiăng.
    Sức khỏa là giá trị đáng quý nhất mà mỗi con người sở hưu và một cộng đồng khỏe mạnh chính là nền tảng chắc chắn cho sự phát triển. Hiểu rõ điều này, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực và đầu tư rất lớn vào việc bảo vệ sức khỏe cho người dân. Quyết định cấm tất cả các loại amiăng sẽ góp phần tăng cường sức khỏe cho toàn bộ người dân Việt Nam.
    WHO và ILO sẽ tiếp tục hỗ trợ về mặt kỹ thuật để loại bỏ bệnh tật liên quan tới amiăng tại Việt Nam


    Nguồn: khoahoc.com.vn

    Amiăng : Thế giới cấm từ lâu - Việt nam vẫn dùng!

    Đa số các nước trên thế giới đã nói không với “sát nhân” amiăng trong khi Việt Nam vẫn nằm trong 10 nước sử dụng nhiều nhất
    Amiăng trắng vẫn được dùng để làm tấm lợp

    Hơn 20 năm trước, nhiều nước trên thế giới đã cấm sử dụng amiăng màu sau khi được cảnh báo đây là chất cực độc; amiăng trắng vẫn được sử dụng trong sản xuất tấm lợp, chất cách điện, cách nhiệt... nhưng đi kèm yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn.

    Tại hội thảo khoa học “Amiăng với sức khỏe” do Bộ Y tế phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức mới đây, GS Ken Takahashi - Giám đốc Trung tâm Hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về sức khỏe nghề nghiệp, ĐH Sức khỏe môi trường và nghề nghiệp Nhật Bản - cho biết tất cả các dạng amiăng đều có khả năng gây ung thư. Nhật Bản cấm sử dụng amiăng trắng từ năm 2006 sau một sự cố khiến nước này phải bồi thường 100 triệu USD cho 274 người từng ở gần nhà máy amiăng.

    Đồng quan điểm trên, TS Nasir Hassan, chuyên gia về sức khỏe môi trường của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, khẳng định thông tin amiăng trắng sẽ an toàn nếu sử dụng trong một ngưỡng nhất định là hoàn toàn sai. Hằng năm, hơn 100.000 người chết do các bệnh liên quan đến amiăng và tốt nhất là ngừng sử dụng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

    GS Nico van Zandwijk - Viện Nghiên cứu các bệnh liên quan đến amiăng, ĐH Sydney (Úc) - khẳng định bên cạnh gánh nặng về y tế, những khoản bồi thường khổng lồ thì chi phí về môi trường, đặc biệt là khắc phục chất thải amiăng cũng rất lớn. Liên minh châu Âu, Ngân hàng Thế giới và Mỹ cũng ủng hộ việc cấm sử dụng amiăng.

    Amiăng gây nên nhiều hệ lụy là vậy nhưng tại Việt Nam, hiện có hơn 3.000 sản phẩm thương mại sử dụng amiăng như tấm lợp AC, tấm cách âm, phanh ô tô... Ngoài ra, trong quy trình khai thác mỏ, đóng tàu thủy, phá dỡ hoặc cải tạo các công trình kiến trúc đều có sử dụng vật liệu amiăng… Hơn 10 năm nay, Việt Nam là 1 trong 10 nước tiêu thụ amiăng nhiều nhất thế giới; mỗi năm nhập khẩu khoảng 65.000 tấn, sản xuất 106 triệu m2 tấm lợp AC ở hơn 40 cơ sở sản xuất với hơn 5.000 lao động.

    Theo TS Lương Mai Anh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế, vấn đề bảo hộ lao động trong các cơ sở sản xuất liên quan đến amiăng còn lỏng lẻo. Nhiều nơi, công nhân dùng tay không bốc amiăng, đi chân trần trên nền đất rơi vãi amiăng; không mặc quần áo bảo hộ, không đeo khẩu trang khi làm việc với amiăng. Đáng lo ngại, nhiều gia đình vẫn lợp mái nhà bằng tấm lợp có chất amiăng, sau đó hứng nước mưa dưới mái nhà để sử dụng, uống trực tiếp nước có thôi nhiễm sợi amiăng.

    Bác sĩ Trần Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo phát triển cộng đồng - Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, lo lắng: “Tại sao chúng ta cứ lần lữa trong việc nói không với amiăng trong khi thế giới đã chỉ ra hàng loạt nguy cơ về sức khỏe? Đây là điều đi ngược với xu hướng của thế giới”.

    Các nhà khoa học khẳng định việc nghiên cứu chứng minh thêm các tác hại của amiăng tại Việt Nam không cần thiết. Điều quan trọng là cần tìm biện pháp xử lý chất thải amiăng và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

    Mới đây, Bộ Y tế đã soạn thảo tờ trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị đưa ra một lộ trình tiến tới cấm sử dụng amiăng vào năm 2020. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia quốc tế nhận định Việt Nam cần có cái nhìn chiến lược từ những bài học của Nhật và Úc trong vấn đề amiăng để không quyết định quá muộn về kinh tế cũng như sức khỏe cộng đồng. Bởi sau nhiều năm tranh cãi, Việt Nam vẫn chưa có bất cứ công nghệ, quy trình nào xử lý được các phế thải này.
    Nguồn: http://nld.com.vn

    Phạm Xuân Tiến's Blog: Các đơn vị đang áp dụng ISO 14001 cũng cần xem xét lại xem hiện có đang sử dụng và phát thải vật liệu làm từ amiăng không nhé. Nếu có thì nên tìm kiếm các giải pháp thay thế để giảm thiểu tác hại đối với người lao động và môi trường xung quanh.

    Sửa đổi Hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO 14001

    Cập nhật: Bản dịch ISO 14001:2015 xem tại đây

    ISO 14001, một trong những tiêu chuẩn ISO được sử dụng rộng rãi nhất, đang được sửa đổi, cập nhật phiên bản mới vào cuối năm 2015.

    Tại sao 14001 ISO được sửa đổi?

    Tất cả các tiêu chuẩn ISO được xem xét mỗi năm năm để xác định xem một phiên bản được yêu cầu để giữ cho nó hiện hành và phù hợp với thị trường. ISO 14001:2015 tương lai sẽ đáp ứng xu hướng mới nhất và đảm bảo nó tương thích với các tiêu chuẩn hệ thống quản lý khác như ISO 9001.