Hiển thị các bài đăng có nhãn IFS. Hiển thị tất cả bài đăng

Một hướng dẫn giảm thiểu gian lận thực phẩm của FSSC 22000

Một hướng dẫn phòng vệ thực phẩm của FSSC 22000

Một mẫu kế hoạch phòng vệ thực phẩm theo hướng dẫn của FDA

Tiêu chuẩn PAS 96:2017 Hướng dẫn bảo vệ và phòng vệ thực phẩm khỏi tấn công có chủ ý

Học thuyết của IFS về an toàn thực phẩm

Phần mềm xây dựng Kế hoạch phòng vệ thực phẩm của FDA

Food Defense Plan Builder thực phẩm là một chương trình phần mềm thân thiện với người dùng được thiết kế để hỗ trợ chủ sở hữu và người điều hành các cơ sở thực phẩm với các kế hoạch phòng vệ thực phẩm được cụ thể hoá cho các cơ sở của họ. Công cụ thân thiện này sử dụng các công cụ, hướng dẫn và tài nguyên hiện có của FDA về phòng vệ thực phẩm trong một ứng dụng duy nhất.

Food Defense Plan Builder hướng dẫn người dùng thông qua các phần sau:

  1. Thông tin công ty
  2. Các chiến lược giảm nhẹ trên diện rộng
  3. Đánh giá điểm yếu
  4. Chiến lược Giảm nhẹ Tập trung
  5. Danh bạ khẩn cấp
  6. Kế hoạch hành động
  7. Tài liệu hỗ trợ

Chỉ tiếc rằng phần mềm này không chạy trên Linux (mà tôi thì đang dùng Linux, hix)

DOWNLOAD TẠI ĐÂY

VIDEO HƯỚNG DẪN XEM TẠI ĐÂY

Nguồn: fda.gov

Tiêu chuẩn IFS Food Version 6.1 - Bản chuyển ngữ Tiếng Việt

Tiêu chuẩn IFS Food Version 6.1

Cập nhật tiêu chuẩn IFS Food phiên bản 7

Ủy ban Kỹ thuật Quốc tế IFS đã quyết định phát hành một phiên bản sửa đổicủa IFS 6 vào tháng 11-2017, phiên bản này sẽ bao gồm vài yêu cầu bổ sung. Phiên bản này sẽ bao gồm chủ yếu các nội dung của phiên bản hiện hành IFS Food phát hành 4.2014, tham chiếu đến IFS Food Doctrine và ngoài ra một chương mới 4.21 "Thực phẩm giả mạo" được bổ sung. Phiên bản sửa đổi này sẽ được áp dụng từ 01 tháng 6 năm 2018.

IFS sẽ nộp đơn đối sánh IFS Food Version 6.1 tháng 11.2017 IFS với GFSI theo GFSI phiên bản 7.1.

IFS sẽ tiếp tục phát triển phiên bản IFS Food Version 7. Nó được hoạch định để tăng cường tiếp cận về quá trình và sản phẩm của IFS. Các chủ đề chính của IFS Food Version 7 sẽ thích hợp với phiên bản mới của Codex Alimentarius, bao gồm tính nhất quán của sản phẩm được lưu hành trong quản lý chuỗi cung ứng và tập trung vào các yêu cầu bao gói trong các quá trình thiết kế và đóng gói.

Ủy ban Kỹ thuật Quốc tế IFS sẽ quyết định về các thay đổi chính trong phiên bản mới vào mùa xuân hoặc đầu mùa hè 2018 và sau đó phiên bản 7 được hoạch định để phát hành trễ nhất vào cuối quý 4 năm 2018.

Theo IFS Team

Một hướng dẫn thẩm định hạn sử dụng sản phẩm thực phẩm

Mot huong dan ve tham dinh han su dung san pham thuc pham

Một hướng dẫn Validation của FAO

Một hướng dẫn của IFS Food về phòng vệ thực phẩm

Danh sách thực phẩm có thành phần gây dị ứng

Danh sách thực phẩm có thành phần gây dị ứng Danh sách thực phẩm có thành phần gây dị ứng

Xây dựng HACCP: Điều kiện sinh trưởng và bất hoạt đối với vi sinh vật gây bệnh

Xây dựng HACCP: Điều kiện sinh trưởng và bất hoạt đối với vi sinh vật gây bệnh

Limiting Conditions For Pathogen Growth

Water Phase Salt Calculation


Inactivation of Non-Proteolytic C.Botulinum Type B


Inactivation of Listeria Monocytogenes


Time and Temperature Guidance for Control Pathogen Growth and Toxin Formation in Fish and Fishery Products

Các loại Cây quyết định xác định CCP trong xây dựng hệ thống HACCP

Các loại Cây quyết định xác định CCP trong xây dựng hệ thống HACCP

Cây quyết định theo hướng dẫn của FDA


Cây quyết định theo hướng dẫn của ISO/TS 22004


Cây quyết định theo hướng dẫn của BRI


Cây quyết định theo hướng dẫn của Codex


Phạm Xuân Tiến

QCVN 02 - 01: 2009/BNNPTNT - CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY SẢN – ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

QCVN 02 - 01: 2009/BNNPTNT - CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY SẢN – ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

QCVN 02 - 01: 2009/BNNPTNT - CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY SẢN –   ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

Tiêu chuẩn IFS Food Ver 6 - 2014 - Bản dịch Tiếng Việt

Tiêu chuẩn IFS Food Ver 6 - 2014 - Bản dịch Tiếng Việt

Tiêu chuẩn IFS Food Ver 6 - 2014 - Bản dịch Tiếng Việt Lưu ý: Đây không phải là tài liệu chính thức của ifs-certification.com

Thông tin an toàn về Parabens

Parabens là một nhóm hóa chất được sử dụng rộng rãi với vai trò làm chất bảo quản trong công nghiệp mỹ phẩm, dược phẩm và thực phẩm. Các hợp chất parabens và các muối của chúng được sử dụng chủ yếu nhờ vào đặc tính kháng vi khuẩn và kháng nấm. Parapens “tả xung hữu đột” từ dầu gội đầu, kem cạo râu, kem đánh răng cho tới thực phẩm, thuốc men...
Thông tin an toàn về Paraben Nói một cách màu mè hóa học thì parabens là những esters của para-hydroxybenzoic acid. Những loại parabens thông dụng được ghi trên các nhãn sản phẩm bao gồm methylparaben (ký hiệu E218), ethylparaben (E214), propylparaben (E216)... Trong ngành chế biến thực phẩm, parabens được đưa vào thực phẩm cách nay hơn 50 năm.

Gần đây, có nhiều nghiên cứu cho thấy parabens là những chất có thể gây ra các xáo trộn estrogen nên một số công ty, hãng xưởng đã “ngoan ngoãn” tự cắt giảm lượng parabens trong các sản phẩm của họ. Những nghiên cứu này đã chỉ ra “mặt tối” của parabens bao gồm:

1-Phản ứng dị ứng

Đối với da bình thường, parabens không gây kích ứng hay mẩn cảm, nhưng với những người bị dị ứng với parabens thì sẽ có hiện tượng bị kích ứng.

2-Ung thư nhũ hoa

Parabens có thể “nhái” hormone estrogen vốn làm ngòi nổ cho sự phát sinh ung thư nhũ hoa. Parabens cũng tìm thấy trong các ung bướu nhũ hoa, vì vậy các nhà nghiên cứu khuyên rằng nên thận trọng khi xịt các sản phẩm khử mùi hay sản phẩm bôi thoa có chứa parabens ở gần ngực hoặc trên ngực. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tác hại gây ung thư nhũ hoa của parabens vẫn còn gây nhiều tranh cãi.

3-Tác động lên hệ sinh sản của giống đực

Một nghiên cứu được thực hiện tại Nhật cho thấy rằng tiếp xúc với parabens sẽ tác động lên sự tiết testosterone cũng như những chức năng tổng quát về hệ sinh sản ở chuột đực. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là thí nghiệm trên thú vật.

4-Lão hóa da

Nhiều nghiên cứu cho thấy khi thoa các mỹ phẩm có chứa methylparaben lên da thì chúng có thể phản ứng với tia UVB làm cho da bị lão hóa một cách nhanh chóng, đồng thời sẽ gây tổn hại cho DNA.

Theo ước tính, trong cuộc sống hiện đại ngày nay, một người “sành điệu” thường “lai rai” một lượng parabens khoảng 77,5 mg mỗi ngày, trong đó từ thực phẩm khoảng 2,5 mg/ngày, từ các sản phẩm chăm sóc cơ thể và mỹ phẩm khoảng 50 mg/ngày, từ dược phẩm và thực phẩm chức năng là 25 mg/ngày.

Vì “nghi án” gây ung thư nên các nhà y học khuyên người tiêu dùng nên hướng đến các sản phẩm không chứa parabens. Các sản phẩm này được ghi một câu “ăn tiền” là không chứa paraben (paraben-free).

Nguồn: dantri.com.vn

Acrylamide (AA): Phân tích HACCP nhóm sản phẩm xử lý nhiệt cần bổ sung

Các chuyên gia y tế vừa lên tiếng cảnh báo nguy cơ ung thư do ăn khoai tây chiên, bánh mỳ và các thực phẩm rán hoặc nướng bỏ lò khác, sau khi phát hiện chúng có chứa một hóa chất độc hại cũng tồn tại trong khói thuốc lá.
Acrylamide (AA): Phân tích HACCP nhóm sản phẩm có xử lý nhiệt cần bổ sung
Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu (EFSA) vừa cho công bố một nghiên cứu xác thực, acrylamide (AA) - chất hình thành khi các thực phẩm được nấu hoặc chế biến ở nhiệt độ cao, tiềm ẩn khả năng gây ung thư.

Cơ quan này khuyến cáo: "AA hình thành trong vô số thực phẩm giàu cácbon hyđrat được rán hoặc nướng bỏ lò, kể cả các món khoai tây chiên, bánh mỳ, bánh quy và cà phê. AA cũng được phát hiện tồn tại trong khói thuốc lá".

Theo EFSA, bằng chứng từ các nghiên cứu trên động vật cho thấy, AA và chất chuyển hóa của nó - glycidamide - làm tổn hại ADN và gây ung thư. Do AA tồn tại trong rất nhiều thực phẩm hàng ngày, nên hiểm họa sức khỏe rình rập mọi người tiêu dùng.

Tuy nhiên, trẻ em được coi là nhóm tuổi tiếp xúc nguy cơ nhiều nhất xét về trọng lượng cơ thể. Khoảng 51% tổng mức phơi nhiễm với AA ở trẻ em là do ăn khoai tây chiên hoặc bánh rán.

Các cuộc khảo sát của FSA cũng hé lộ, nhiều loại thức ăn chế biến sẵn vốn là món khoái khẩu của trẻ em cũng như một số sản phẩm ngũ cốc ăn sáng và thậm chí cả sản phảm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ có chứa hàm lượng AA khá cao. Trong đó, hóa chất độc hại này thường xuất hiện ở các sản phẩm tinh bột trong quá trình nấu ở nhiệt độ cao như chiên/rán, nướng bỏ lò, quay và cả trong quy trình chế biến công nghiệp ở nhiệt độ trên 120 độ C.

Khám phá trên của EFSA sẽ được các cơ quan giám sát thực phẩm trên khắp châu Âu sử dụng như căn cứ cho các khuyến nghị an toàn mới đối với người tiêu dùng, đặc biệt là các bậc phụ huynh.

Cơ quan Các tiêu chuẩn thực phẩm Anh đã đưa ra lời khuyên các gia đình chỉ chế biến khoai tây chiên tới màu vàng nhạt và cảnh báo chỉ nên nướng bánh mỳ tới màu nhạt nhất có thể. Với các phát hiện của EFSA, nhà chức trách Anh có thể phải xem lại lời khuyến nghị của mình và đưa thêm hướng dẫn các bậc cha mẹ về giới hạn số lần nên cho con trẻ ăn khoai tây chiên mỗi tuần.

Nguồn: http://vietnamnet.vn

Clenbuterol không chỉ có trong thịt lợn

Clenbuterol là chất có tác động kích thích tăng nạc (giảm mỡ) giống như thuốc, nhưng không là hợp chất hữu cơ có chứa steroid. Nó được xếp vào vào nhóm thuốc có tính gây nghiên mạnh thuộc nhóm beta-2-agonists, tính chất tương tự như adrenaline và amphetamines có tác dụng phụ làm gia tăng nhịp tim, tăng huyết áp và đổ nhiều mồ hôi.[1]

Tại một số nước Clenbuterol được sử dụng như 1 chất tăng trọng. Người ta bổ sung Clenbuterol vào thức ăn chăn nuôi để nuôi lợn, gà, vịt, ngỗng, bò nhằm kích thích sinh trưởng, tăng tỷ lệ nạc, làm giảm chi phí thức ăn chăn nuôi. Dư lượng Clenbuterol trong các loại thịt gia súc, gia cầm đã được 1 số nước phát hiện. Clenbuterol gây độc cho cơ thể. Khi bị nhiễm Clenbuterol sẽ làm cho cơ thể tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, run cơ, co thắt phế quản, phù nề, liệt cơ.[2]

Từ năm 1988, tại các nước châu Âu đã cấm đưa Clenbuterol vào thức ăn chăn nuôi. Năm 1991, nước Mỹ cũng đã cấm đưa chất này vào thức ăn chăn nuôi. Ở Việt Nam, theo Quyết định số 54/QĐ-BNN do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ký ngày 26/06/2002 cấm sản xuất, nhập khẩu, lưu thông và sử dụng Clenbuterol trong sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi.[2]

Tương tự như Clenbuterol, Sabutamol cũng thường bị lạm dụng như một chất bổ sung trong thức ăn chăn nuôi với mục đích tăng trọng.

Các đơn vị sản xuất thực phẩm từ thịt gia súc, gia cầm khi thiết lập hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo HACCP, BRC Food, IFS Food, ISO 22000,... cần lưu ý đánh giá rủi ro về dư lượng Clenbuterol và Sabutamol trong thịt nguyên liệu nhận vào và có biện pháp kiểm soát thích hợp nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm an toàn đến người tiêu dùng.

Tổng hợp từ:
[1] tdtt.gov.vn
[2] khoahocphothong.com.vn