Hiển thị các bài đăng có nhãn IFS. Hiển thị tất cả bài đăng

Cập nhật tiêu chuẩn IFS Food phiên bản 7

Ủy ban Kỹ thuật Quốc tế IFS đã quyết định phát hành một phiên bản sửa đổicủa IFS 6 vào tháng 11-2017, phiên bản này sẽ bao gồm vài yêu cầu bổ sung. Phiên bản này sẽ bao gồm chủ yếu các nội dung của phiên bản hiện hành IFS Food phát hành 4.2014, tham chiếu đến IFS Food Doctrine và ngoài ra một chương mới 4.21 "Thực phẩm giả mạo" được bổ sung. Phiên bản sửa đổi này sẽ được áp dụng từ 01 tháng 6 năm 2018.

IFS sẽ nộp đơn đối sánh IFS Food Version 6.1 tháng 11.2017 IFS với GFSI theo GFSI phiên bản 7.1.

IFS sẽ tiếp tục phát triển phiên bản IFS Food Version 7. Nó được hoạch định để tăng cường tiếp cận về quá trình và sản phẩm của IFS. Các chủ đề chính của IFS Food Version 7 sẽ thích hợp với phiên bản mới của Codex Alimentarius, bao gồm tính nhất quán của sản phẩm được lưu hành trong quản lý chuỗi cung ứng và tập trung vào các yêu cầu bao gói trong các quá trình thiết kế và đóng gói.

Ủy ban Kỹ thuật Quốc tế IFS sẽ quyết định về các thay đổi chính trong phiên bản mới vào mùa xuân hoặc đầu mùa hè 2018 và sau đó phiên bản 7 được hoạch định để phát hành trễ nhất vào cuối quý 4 năm 2018.

Theo IFS Team

Một hướng dẫn thẩm định hạn sử dụng sản phẩm thực phẩm

Mot huong dan ve tham dinh han su dung san pham thuc pham

Một hướng dẫn Validation của FAO

Một hướng dẫn của IFS Food về phòng vệ thực phẩm

Danh sách thực phẩm có thành phần gây dị ứng

Danh sách thực phẩm có thành phần gây dị ứng Danh sách thực phẩm có thành phần gây dị ứng

Một hướng dẫn quản lý thực phẩm gây dị ứng

Một hướng dẫn quản lý thực phẩm gây dị ứng

Một hướng dẫn quản lý thực phẩm gây dị ứng

Thông tin về một số loại thực phẩm có thành phần gây dị ứng

Có hơn 160 loại đồ ăn có thể gây dị ứng, trong đó 8 thực phẩm bên dưới là chủ yếu. Nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, EU, Nhật, Australia và New Zealand bắt buộc nhãn về các thành phần gây dị ứng trên bao bì.

1. Sữa bò

Sữa bò là thủ phạm chính gây dị ứng thức ăn ở trẻ nhỏ. Khoảng 2-3% các bé dị ứng với sữa. Rất may khi lên 6 tuổi, 90% số trẻ này tự khỏi. Thực phẩm có thành phần gây dị ứng Dị ứng sữa bò liên quan tới phản ứng miễn dịch chống lại một trong hai hoặc cả hai protein của sữa là casein và protein huyết thanh (whey protein). Các protein này cũng có mặt trong sữa của động vật có vú khác, vì vậy bé dị ứng sữa bò thường cũng dị ứng với sữa dê, sữa cừu.

Dị ứng với protein sữa bò thường gây biểu hiện ngoài da (ban đỏ, mày đay, viêm da, chàm), triệu chứng tiêu hóa (đau bụng, rối loạn tiêu hóa), và hô hấp (khó thở, hen) ngay trong giờ đầu sau khi sử dụng. Trường hợp dị ứng nặng có thể gây sốc phản vệ, nguy cơ tử vong cao. Trên lâm sàng, dị ứng sữa bò thường bị nhầm với không dung nạp sữa bò, một bệnh lý có nguyên nhân di truyền, do thiếu men tiêu hóa đường lactose.

Dị ứng sữa bò làm tăng nguy cơ dị ứng với các thức ăn khác cũng như dị ứng ở mũi. Có tới 10% trẻ dị ứng sữa bò sẽ phản ứng với thịt bò.

2.Trứng

Trứng là nguyên nhân hay gặp thứ hai gây dị ứng thức ăn ở trẻ nhỏ, khoảng 1,5% các bé dị ứng với trứng gà. Tình trạng này ít gặp ở người trưởng thành, 80% trẻ thoát khỏi dị ứng trứng khi lên 6 tuổi.

Phần lớn các protein gây dị ứng nằm trong lòng trắng, trong khi protein lòng đỏ ít gây dị ứng hơn. Do sự tương đồng giữa protein trứng gà và các loại trứng khác, người dị ứng trứng gà thường dị ứng với trứng vịt, trứng ngan... Sử dụng thịt gà thịt vịt không gây rắc rối gì.

Dị ứng trứng thường gây biểu hiện ngoài da (viêm da, mày đay) và tiêu hóa (đau bụng, buồn nôn, nôn). Phản ứng ngoài da đầu tiên có thể xuất hiện chỉ vài phút sau khi dùng trứng, trong khi các biểu hiện tiêu hóa thường rất khác biệt về thời điểm xuất hiện, độ nặng và mức độ kéo dài. Sốc phản vệ và phản ứng hô hấp (khó thở, ho, lên cơn hen) sau ăn trứng cũng đã được ghi nhận.

Nhiệt độ cao không làm giảm khả năng gây dị ứng của trứng.

3. Cá

Dị ứng cá thường bắt đầu ở tuổi trưởng thành, người bị dị ứng hiếm khi tự thoát khỏi tình trạng này. Bệnh hay gặp ở nơi người dân hay ăn cá.

Tuy cá hết sức đa dạng, thành phần gây dị ứng chính của tất cả các loại cá là protein parvalbumin. Những người phản ứng với một loại cá thường cũng dị ứng với các loại cá khác.

Dị ứng cá thường gây biểu hiện ngoài da và tiêu hóa, xuất hiện ngay sau khi ăn. Đôi khi có thể có phản ứng toàn thân, bao gồm cả sốc phản vệ.

Nhiệt độ cao không làm phá hủy tính dị ứng của parvalbumin, vì vậy tránh ăn cá là biện pháp duy nhất để phòng ngừa.

4. Tôm cua

Dị ứng với hải sản có vỏ cứng như tôm cua thường xuất hiện ở trẻ lớn và người lớn, nhất là ở những vùng người dân hay ăn tôm cua. Người dị ứng với tôm cua cũng thường dị ứng với các loài nhuyễn thể như trai, sò, ốc, hến, ngao, mực, bạch tuộc...

Triệu chứng dị ứng bao gồm phản ứng cục bộ nhẹ ở miệng (ngứa miệng, họng) tới phản ứng toàn thân, đe dọa tính mạng. Đôi khi có thể có biểu hiện đường tiêu hóa và hô hấp.

Nhiệt độ cao không làm giảm tính dị ứng của nhóm thực phẩm này, vì vậy người dị ứng cần tránh tất cả các loại tôm cua.

5. Lạc

Khoảng 0,5-1% trẻ bị dị ứng lạc. Không như dị ứng sữa và trứng, bệnh này ít tự khỏi, 75% các bé vẫn dị ứng lạc khi trưởng thành.

Lạc là cây họ đậu có nguồn gốc Nam Mỹ, cùng họ với các loại đậu hạt, đậu nành. Thủ phạm gây dị ứng là các protein dự trữ, nguồn dinh dưỡng cho sự tăng trưởng của cây sau này. Hai protein gây dị ứng mạnh nhất là vicilin và albumin, vẫn bền vững ở nhiệt độ cao, tuy nhiên lạc nướng gây dị ứng nhiều hơn lạc luộc hay rang.

Biểu hiện lâm sàng của dị ứng lạc có thể gồm dị ứng ở miệng (ngứa miệng và họng) hay khó thở (hen), thậm chí là sốc phản vệ. Trong tất cả các loại dị ứng thức ăn, dị ứng với lạc thường có biểu hiện nặng nề nhất. Lạc có thể gây dị ứng mạnh ngay trong lần sử dụng đầu tiên. Triệu chứng ngứa ran ở môi khi tiếp xúc với lạc là dấu hiệu cảnh báo của phản ứng mạnh có thể xảy ra. Trong một số ít trường hợp, chỉ cần hít phải mùi lạc hoặc tiếp xúc da tối thiểu, thậm chí là hôn nhau cũng có thể dẫn tới dị ứng lạc.

Khoảng 80% trẻ em bị dị ứng lạc sẽ phản ứng ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên. Còn chưa rõ vì sao cơ thể có phản ứng dị ứng khi chưa tiếp xúc trực tiếp với lạc trước đó. Có giả thiết cho rằng các bé đã làm quen với protein lạc khi nằm trong bụng mẹ hoặc trong thời gian bú mẹ. Bệnh nhân dị ứng lạc cũng thường dị ứng với các loại hạt cây như hạt dẻ, hạt điều, hạnh nhân, hạt dẻ cười...

Ngưỡng gây dị ứng lạc được ghi nhận là 1 miligam (một hạt lạc có khối lượng trung bình 500-1000 mg). Điều này có nghĩa 1/1.000 hạt lạc cũng có thể làm khởi phát phản ứng dị ứng ở một số bệnh nhân.

6. Hạt cây

Các loại hạt như hạt dẻ, hạt điều, hạnh nhân, óc chó, hạt dẻ cười, hạt thông… được coi là thực phẩm có tiềm năng gây dị ứng lớn nhất, nghĩa là chỉ cần một lượng rất nhỏ cũng đủ gây phản ứng dữ dội. Khoảng 0,5% dân số dị ứng với các hạt này, bệnh hiếm khi tự khỏi. Trẻ dị ứng với một loại hạt cây thường cũng sẽ dị ứng với các loại hạt cây khác và có thể dị ứng chéo với lạc. Dị ứng hạt điều được cho là nặng hơn dị ứng lạc.

Triệu chứng lâm sàng bao bồm các dấu hiệu phản ứng nhẹ như nổi mẩn quanh miệng hoặc toàn thân, đau bụng, nôn. Trường hợp nặng có thể gây ho, thở khò khè, khó thở, khàn giọng do dị ứng đường hô hấp. Trường hợp rất nặng có thể gây ngất, thậm chí là sốc phản vệ dẫn tới tử vong.

Phản ứng dữ dội với hạt có thể bị kích hoạt bởi một lượng thực phẩm cực nhỏ (đôi khi chỉ là tiếp xúc qua da hoặc qua hít thở), người bị dị ứng cần tuyệt đối tránh các thực phẩm này.

7. Lúa mì

0,4% trẻ nhỏ dị ứng với lúa mì. Khoảng 80% sẽ tự khỏi khi lên 6 tuổi. Dị ứng lúa mì là phản ứng đặc biệt của hệ miễn dịch với một số protein trong lúa mì.

Các biểu hiện thường bao gồm phản ứng cục bộ nhẹ của da, họng và ruột; sốc phản vệ rất hiếm gặp. Khó phân biệt các triệu chứng lâm sàng do nguyên nhân dị ứng với các trường hợp không dung nạp gluten hay hội chứng kém hấp thu gluten (bệnh Celiac). Không dung nạp gluten gây các triệu chứng đường ruột nặng nề, tuy nhiên không gây tổn thương ruột như trong bệnh Celiac. Gluten là một loại protein có trong lúa mì, yến mạch, lúa mạch, lúa mạch đen...

8. Đậu tương

Tuy có nhiều báo cáo về các trường hợp dị ứng với đậu tương nhưng rất khó xác định tỷ lệ thực. Nhiều trường hợp dị ứng với các loại đậu khác có thể mang kháng thể IgE chống đậu tương nhưng không có phản ứng khi dùng sản phẩm này.

Dị ứng với đậu tương chủ yếu ghi nhận ở trẻ nhỏ bị chàm (viêm da cơ địa), các bé thường thoát khỏi dị ứng sau 1-2 năm không đùng đậu tương. Hiện tượng này ít gặp ở người lớn.

Dị ứng khi dùng thức ăn từ đậu tương có thể gây biểu hiện ngứa và sưng ở miệng họng, buồn nôn, tiêu chảy, viêm mũi dị ứng hay hen và mày đay. Trường hợp nặng bệnh nhân có thể hạ huyết áp, khó thở.

Hít phải bột đậu tương khi làm việc có thể dẫn tới các biểu hiện hô hấp như viêm mũi hay hen. Bệnh nhân dị ứng do hít phải bụi đậu thường không gặp bất thường khi ăn thức ăn từ thực phẩm này. Bụi đậu tương là thủ phạm gây ra dịch hen của công nhân bốc vác tại một số thành phố cảng Tây Ban Nha trong khoảng thời gian 1981-1987 cũng như ở New Orleans (Mỹ) những năm 1950 và 1960.

Nguồn: vnexpress.net

Xây dựng HACCP: Điều kiện sinh trưởng và bất hoạt đối với vi sinh vật gây bệnh

Xây dựng HACCP: Điều kiện sinh trưởng và bất hoạt đối với vi sinh vật gây bệnh

Limiting Conditions For Pathogen Growth

Water Phase Salt Calculation


Inactivation of Non-Proteolytic C.Botulinum Type B


Inactivation of Listeria Monocytogenes


Time and Temperature Guidance for Control Pathogen Growth and Toxin Formation in Fish and Fishery Products

Ngưỡng hoạt độ nước(aw) ức chế vi sinh vật gây bệnh phát triển trong thực phẩm

Ngưỡng hoạt độ nước(aw) ức chế vi sinh vật gây bệnh phát triển trong thực phẩm

Ngưỡng hoạt độ nước(aw) ức chế vi sinh vật gây bệnh phát triển trong thực phẩm

Các loại Cây quyết định xác định CCP trong xây dựng hệ thống HACCP

Các loại Cây quyết định xác định CCP trong xây dựng hệ thống HACCP

Cây quyết định theo hướng dẫn của FDA


Cây quyết định theo hướng dẫn của ISO/TS 22004


Cây quyết định theo hướng dẫn của BRI


Cây quyết định theo hướng dẫn của Codex


Phạm Xuân Tiến

QCVN 02 - 01: 2009/BNNPTNT - CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY SẢN – ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

QCVN 02 - 01: 2009/BNNPTNT - CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY SẢN – ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

QCVN 02 - 01: 2009/BNNPTNT - CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY SẢN –   ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

Tiêu chuẩn IFS Food Ver 6 - 2014 - Bản dịch Tiếng Việt

Tiêu chuẩn IFS Food Ver 6 - 2014 - Bản dịch Tiếng Việt

Tiêu chuẩn IFS Food Ver 6 - 2014 - Bản dịch Tiếng Việt Lưu ý: Đây không phải là tài liệu chính thức của ifs-certification.com

Thông tin an toàn về Parabens

Parabens là một nhóm hóa chất được sử dụng rộng rãi với vai trò làm chất bảo quản trong công nghiệp mỹ phẩm, dược phẩm và thực phẩm. Các hợp chất parabens và các muối của chúng được sử dụng chủ yếu nhờ vào đặc tính kháng vi khuẩn và kháng nấm. Parapens “tả xung hữu đột” từ dầu gội đầu, kem cạo râu, kem đánh răng cho tới thực phẩm, thuốc men...
Thông tin an toàn về Paraben Nói một cách màu mè hóa học thì parabens là những esters của para-hydroxybenzoic acid. Những loại parabens thông dụng được ghi trên các nhãn sản phẩm bao gồm methylparaben (ký hiệu E218), ethylparaben (E214), propylparaben (E216)... Trong ngành chế biến thực phẩm, parabens được đưa vào thực phẩm cách nay hơn 50 năm.

Gần đây, có nhiều nghiên cứu cho thấy parabens là những chất có thể gây ra các xáo trộn estrogen nên một số công ty, hãng xưởng đã “ngoan ngoãn” tự cắt giảm lượng parabens trong các sản phẩm của họ. Những nghiên cứu này đã chỉ ra “mặt tối” của parabens bao gồm:

1-Phản ứng dị ứng

Đối với da bình thường, parabens không gây kích ứng hay mẩn cảm, nhưng với những người bị dị ứng với parabens thì sẽ có hiện tượng bị kích ứng.

2-Ung thư nhũ hoa

Parabens có thể “nhái” hormone estrogen vốn làm ngòi nổ cho sự phát sinh ung thư nhũ hoa. Parabens cũng tìm thấy trong các ung bướu nhũ hoa, vì vậy các nhà nghiên cứu khuyên rằng nên thận trọng khi xịt các sản phẩm khử mùi hay sản phẩm bôi thoa có chứa parabens ở gần ngực hoặc trên ngực. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tác hại gây ung thư nhũ hoa của parabens vẫn còn gây nhiều tranh cãi.

3-Tác động lên hệ sinh sản của giống đực

Một nghiên cứu được thực hiện tại Nhật cho thấy rằng tiếp xúc với parabens sẽ tác động lên sự tiết testosterone cũng như những chức năng tổng quát về hệ sinh sản ở chuột đực. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là thí nghiệm trên thú vật.

4-Lão hóa da

Nhiều nghiên cứu cho thấy khi thoa các mỹ phẩm có chứa methylparaben lên da thì chúng có thể phản ứng với tia UVB làm cho da bị lão hóa một cách nhanh chóng, đồng thời sẽ gây tổn hại cho DNA.

Theo ước tính, trong cuộc sống hiện đại ngày nay, một người “sành điệu” thường “lai rai” một lượng parabens khoảng 77,5 mg mỗi ngày, trong đó từ thực phẩm khoảng 2,5 mg/ngày, từ các sản phẩm chăm sóc cơ thể và mỹ phẩm khoảng 50 mg/ngày, từ dược phẩm và thực phẩm chức năng là 25 mg/ngày.

Vì “nghi án” gây ung thư nên các nhà y học khuyên người tiêu dùng nên hướng đến các sản phẩm không chứa parabens. Các sản phẩm này được ghi một câu “ăn tiền” là không chứa paraben (paraben-free).

Nguồn: dantri.com.vn

Acrylamide (AA): Phân tích HACCP nhóm sản phẩm xử lý nhiệt cần bổ sung

Các chuyên gia y tế vừa lên tiếng cảnh báo nguy cơ ung thư do ăn khoai tây chiên, bánh mỳ và các thực phẩm rán hoặc nướng bỏ lò khác, sau khi phát hiện chúng có chứa một hóa chất độc hại cũng tồn tại trong khói thuốc lá.
Acrylamide (AA): Phân tích HACCP nhóm sản phẩm có xử lý nhiệt cần bổ sung
Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu (EFSA) vừa cho công bố một nghiên cứu xác thực, acrylamide (AA) - chất hình thành khi các thực phẩm được nấu hoặc chế biến ở nhiệt độ cao, tiềm ẩn khả năng gây ung thư.

Cơ quan này khuyến cáo: "AA hình thành trong vô số thực phẩm giàu cácbon hyđrat được rán hoặc nướng bỏ lò, kể cả các món khoai tây chiên, bánh mỳ, bánh quy và cà phê. AA cũng được phát hiện tồn tại trong khói thuốc lá".

Theo EFSA, bằng chứng từ các nghiên cứu trên động vật cho thấy, AA và chất chuyển hóa của nó - glycidamide - làm tổn hại ADN và gây ung thư. Do AA tồn tại trong rất nhiều thực phẩm hàng ngày, nên hiểm họa sức khỏe rình rập mọi người tiêu dùng.

Tuy nhiên, trẻ em được coi là nhóm tuổi tiếp xúc nguy cơ nhiều nhất xét về trọng lượng cơ thể. Khoảng 51% tổng mức phơi nhiễm với AA ở trẻ em là do ăn khoai tây chiên hoặc bánh rán.

Các cuộc khảo sát của FSA cũng hé lộ, nhiều loại thức ăn chế biến sẵn vốn là món khoái khẩu của trẻ em cũng như một số sản phẩm ngũ cốc ăn sáng và thậm chí cả sản phảm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ có chứa hàm lượng AA khá cao. Trong đó, hóa chất độc hại này thường xuất hiện ở các sản phẩm tinh bột trong quá trình nấu ở nhiệt độ cao như chiên/rán, nướng bỏ lò, quay và cả trong quy trình chế biến công nghiệp ở nhiệt độ trên 120 độ C.

Khám phá trên của EFSA sẽ được các cơ quan giám sát thực phẩm trên khắp châu Âu sử dụng như căn cứ cho các khuyến nghị an toàn mới đối với người tiêu dùng, đặc biệt là các bậc phụ huynh.

Cơ quan Các tiêu chuẩn thực phẩm Anh đã đưa ra lời khuyên các gia đình chỉ chế biến khoai tây chiên tới màu vàng nhạt và cảnh báo chỉ nên nướng bánh mỳ tới màu nhạt nhất có thể. Với các phát hiện của EFSA, nhà chức trách Anh có thể phải xem lại lời khuyến nghị của mình và đưa thêm hướng dẫn các bậc cha mẹ về giới hạn số lần nên cho con trẻ ăn khoai tây chiên mỗi tuần.

Nguồn: http://vietnamnet.vn

Thông tin hướng dẫn về ghi nhãn thực phẩm có chứa chất gây dị ứng của FDA

Thông tin hướng dẫn về ghi nhãn thực phẩm có chứa chất gây dị ứng của FDA

Hướng dẫn ghi nhãn thực phẩm có thành phần gây dị ứng của Châu Âu - 2014

Hướng dẫn ghi nhãn thực phẩm có thành phần gây dị ứng của Châu Âu - 2014.

Xem thêm tại: https://www.food.gov.uk/business-industry/allergy-guide

Ghi nhãn thực phẩm có chứa chất gây dị ứng: Hướng dẫn người dùng tại Anh Quốc

Hướng dẫn người dùng tại Anh Quốc về nội dung ghi nhãn đối với sản phẩm có chứa chất gây dị ứng

Clenbuterol không chỉ có trong thịt lợn

Clenbuterol là chất có tác động kích thích tăng nạc (giảm mỡ) giống như thuốc, nhưng không là hợp chất hữu cơ có chứa steroid. Nó được xếp vào vào nhóm thuốc có tính gây nghiên mạnh thuộc nhóm beta-2-agonists, tính chất tương tự như adrenaline và amphetamines có tác dụng phụ làm gia tăng nhịp tim, tăng huyết áp và đổ nhiều mồ hôi.[1]

Tại một số nước Clenbuterol được sử dụng như 1 chất tăng trọng. Người ta bổ sung Clenbuterol vào thức ăn chăn nuôi để nuôi lợn, gà, vịt, ngỗng, bò nhằm kích thích sinh trưởng, tăng tỷ lệ nạc, làm giảm chi phí thức ăn chăn nuôi. Dư lượng Clenbuterol trong các loại thịt gia súc, gia cầm đã được 1 số nước phát hiện. Clenbuterol gây độc cho cơ thể. Khi bị nhiễm Clenbuterol sẽ làm cho cơ thể tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, run cơ, co thắt phế quản, phù nề, liệt cơ.[2]

Từ năm 1988, tại các nước châu Âu đã cấm đưa Clenbuterol vào thức ăn chăn nuôi. Năm 1991, nước Mỹ cũng đã cấm đưa chất này vào thức ăn chăn nuôi. Ở Việt Nam, theo Quyết định số 54/QĐ-BNN do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ký ngày 26/06/2002 cấm sản xuất, nhập khẩu, lưu thông và sử dụng Clenbuterol trong sản xuất và kinh doanh thức ăn chăn nuôi.[2]

Tương tự như Clenbuterol, Sabutamol cũng thường bị lạm dụng như một chất bổ sung trong thức ăn chăn nuôi với mục đích tăng trọng.

Các đơn vị sản xuất thực phẩm từ thịt gia súc, gia cầm khi thiết lập hệ thống quản lý an toàn thực phẩm theo HACCP, BRC Food, IFS Food, ISO 22000,... cần lưu ý đánh giá rủi ro về dư lượng Clenbuterol và Sabutamol trong thịt nguyên liệu nhận vào và có biện pháp kiểm soát thích hợp nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm an toàn đến người tiêu dùng.

Tổng hợp từ:
[1] tdtt.gov.vn
[2] khoahocphothong.com.vn

Chứng nhận BRC Food: Lưu ý khi chấp nhận kết quả đánh giá của đánh giá viên

Mới cập nhật: BRC Food Issue 7 đã chính thức được phát hành ngày 07-01-2015

Tình huống

Đánh giá viên của tổ chức đánh giá chứng nhận tiến hành đánh giá hệ thống quản lý chất lượng - an toàn thực phẩm tại một nhà máy chế biến nông sản, và một trong các kết luận đánh giá như sau:


Doanh nghiệp đã tiến hành phân tích, gửi tài liệu cho đánh giá viên nhưng đều không được lắng nghe. Đánh giá viên vẫn khăng khăng đây là NC.


Viện dẫn một số tài liệu tham khảo & phân tích

1- Điều khoản 2.8.1 BRC Food Issue 6 yêu cầu như sau:

Như vậy, BRC Food không yêu cầu phải có CCP để kiểm soát mối nguy được đánh giá là có ý nghĩa, mà là cần phải phân tích xem mối nguy đó có cần kiểm soát bởi một CCP không thông qua sử dụng cây quyết định.

2-Một tài liệu mới phát hành trong năm 2014 của FAO: "Assessment and management of seafood safety and quality", có hướng dẫn như sau:

Tài liệu này cũng hướng dẫn cần sử dụng cây quyết định để xác định xem mối nguy đã nhận diện có cần được kiểm soát bởi một CCP hay không.

3-Hướng dẫn về Cây quyết định CCP của FAO như sau (đây cũng là hướng dẫn đề cập trong TCVN 5603:2008):

4-Hướng dẫn về cây quyết định CCP của FDA như sau:

(Bạn có thể xem tài liệu này tại đây: http://www.fda.gov/downloads/Food/GuidanceRegulation/UCM252446.pdf)

5-Một ví dụ minh họa về phân tích mối nguy và xác định CCP của FAO bạn có thể xem tại đây


Kết luận

(1) Đánh giá viên cẩu thả trong việc soạn và gửi báo cáo cho doanh nghiệp, điều này thể hiện qua các sai lỗi chính tả trong nguyên văn báo cáo.
(2) Đánh giá viên không nắm vững yêu cầu của tiêu chuẩn BRC Food Issue 6. Kết luận của đánh giá viên không dựa vào yêu cầu cầu của tiêu chuẩn (điều khoản 2.8.1 BRC Food Issue 6) mà chỉ dựa vào quan điểm cá nhân.
(3) Đánh giá viên không có tinh thần hợp tác tốt: khi doanh nghiệp gửi các tài liệu và phân tích (như đề cập bên trên) đánh giá viên không thể hiện sự lắng nghe và xem xét.

Bài học kinh nghiệm

(1) Cân nhắc khi hợp tác với các đánh giá viên & tổ chức đánh giá chứng nhận. Doanh nghiệp luôn có quyền chọn tổ chức chứng nhận nào, và thậm chí là đánh giá viên nào.
(2) Cần nắm vững các yêu cầu của tiêu chuẩn đang áp dụng."
(3) Phản biện kết quả đánh giá trong buổi họp báo cáo đến cùng nếu chưa rõ về điểm không phù hợp so với yêu cầu nào.
(4) Sử dụng quyền khiếu nại trong trường hợp không thể đi đến thống nhất. Với tiêu chuẩn BRC Food, bạn có thể khiếu nại trực tiếp với Ủy Ban BRC tại đây

Tiêu chuẩn IFS Food 6 - Bản cập nhật 4-2014


Bên dưới là tiêu chuẩn IFS Food Ver.6, bản cập nật 4-2014 thay thế cho phiên bản 6, 2012.
Các bạn có thể tải miễn phí các tiêu chuẩn IFS tại http://www.ifs-certification.com.