Hiển thị các bài đăng có nhãn HACCP. Hiển thị tất cả bài đăng

Một ví dụ áp dụng HACCP cho SME: Bakery

Một ví dụ áp dụng HACCP cho SME: Bakery

Một hướng dẫn thẩm định các hệ thống HACCP của FSIS

Một hướng dẫn thẩm định các hệ thống HACCP của FSIS

Một hướng dẫn thẩm định hạn sử dụng sản phẩm thực phẩm

Mot huong dan ve tham dinh han su dung san pham thuc pham

Một hướng dẫn Validation của FAO

Một hướng dẫn thực hiện FAMI-QS

Một hướng dẫn của IFS Food về phòng vệ thực phẩm

QCVN 01:2009/BYT - Quy chuẩn Kỹ thuật Việt nam về Chất lượng nước ăn uống

Quy chuẩn Kỹ thuật Việt nam về Chất lượng nước ăn uống

TCVN 7047:2009 Thịt lạnh đông: Các yêu cầu kỹ thuật

Ký sinh trùng trong cơ thể người

Một hướng dẫn của FAO về kiểm soát động vật gây hại

Tại sao phải mang khẩu trang khi tham gia chế biến thực phẩm?

Các tiêu chuẩn về hệ thống quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm, các hướng dẫn thực hành đều có những quy định về việc phải mang khẩu trang và kìm chế hắt hơi khi tham gia chế biến thực phẩm và đây là lý do tại sao lại như vậy.

Theo nghiên cứu trên được đề cập trong Journal of Fluid Mechanics, khi hắt hơi (hắt xì hơi), chúng ta sẽ vô tình phát tán hàng triệu vi khuẩn ra ngoài không khí với áp lực phóng ra lên tới hàng trăm km/h. Thậm chí, chúng còn tụ lại như một đám mây, lơ lửng trong không khí.

Hắt hơi vốn là cơ chế bảo vệ đường hô hấp trước các phần tử lạ xâm nhập qua đường mũi. Khi bị kích thích, trung tâm thần kinh điều khiển tất cả các cơ co lại, từ cơ thực quản cho tới cơ vòng, đương nhiên bao gồm cả cơ mí mắt.

Mỗi lần hắt hơi, bạn bắn ra từ 2.000 - 5.000 giọt nước nhỏ li ti, mỗi giọt chứa trung bình 100.000 con vi khuẩn, đi xa được từ 1,5 - 2m. Mỗi lần hắt hơi, bạn bắn ra từ 2.000 - 5.000 giọt nước nhỏ li ti, mỗi giọt chứa trung bình 100.000 con vi khuẩn, đi xa được từ 1,5 - 2m.

John Bush - người đứng đầu nghiên cứu cho biết: "Khi bạn ho hay hắt hơi, có từ 2.000 - 5.000 tia nước nhỏ li ti được bắn ra từ miệng bạn. Những tia nước này sẽ ngưng tụ, tạo thành một đám mây lơ lửng vô hình. Chúng sẽ bay trong không khí, phát tán những virus, vi trùng ra xung quanh".

Tham khảo: khoahoc.tv

Rửa tay như thế nào mới đúng?

Một nhóm các nhà khoa học đến từ Anh quốc đã thực hiện một nghiên cứu về phương pháp rửa tay. Kết quả nghiên cứu này mới được công bố trên tạp chí Kiểm soát nhiễm khuẩn và Dịch tễ học Bệnh viện.

Nhóm nghiên cứu đã so sánh hai phương pháp rửa tay: một phương pháp do WHO đưa ra và phương pháp rửa tay do Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát Bệnh dịch tại Mỹ hướng dẫn. Sự khác nhau chủ yếu giữa hai phương pháp là cách kỳ cọ bàn tay.

Phương pháp rửa tay do Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát Bệnh dịch tại Mỹ hướng dẫn là “rửa tay bằng chất cồn” – một loại dung dịch vệ sinh có thể được dùng thay thế cho xà phòng – đó là cho chất rửa vào lòng bàn tay, xoa hai tay vào nhau rồi chà lên khắp bề mặt, lòng và mu bàn tay cho đến khi tay khô.

Phương pháp rửa tay do WHO đưa ra, bắt đầu đi từ hai lòng bàn tay, xoa ngón cái và các kẽ tay, sử dụng xà phòng hoặc nước rửa tay có cồn. Phương pháp này thường tiêu tốn trung bình 42,5 giây trong khi phương pháp do Trung tâm Phòng chống và Kiểm soát Bệnh dịch tại Mỹ hướng dẫn chỉ mất 35 giây.

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp rửa tay theo hướng dẫn của WHO làm giảm nhiều vi khuẩn hơn hẳn phương pháp còn lại. Cụ thể, những người rửa tay theo phương pháp rửa tay theo hướng dẫn của WHO loại bỏ được 21% vi khuẩn trong khi nhóm còn lại chỉ loại bỏ được 6% vi khuẩn.

Và dưới đây là các bước rửa tay được WHO khuyến cáo:

Nguồn: dantri.com.vn

Một ấn phẩm của FAO : Assessment and management of seafood safety and quality

Một ấn phẩm của FAO : Assessment and management of seafood safety and quality

Một ấn phẩm của FAO : Assessment and management of seafood safety and quality

Xây dựng HACCP: Điều kiện sinh trưởng và bất hoạt đối với vi sinh vật gây bệnh

Xây dựng HACCP: Điều kiện sinh trưởng và bất hoạt đối với vi sinh vật gây bệnh

Limiting Conditions For Pathogen Growth

Water Phase Salt Calculation


Inactivation of Non-Proteolytic C.Botulinum Type B


Inactivation of Listeria Monocytogenes


Time and Temperature Guidance for Control Pathogen Growth and Toxin Formation in Fish and Fishery Products

Các loại Cây quyết định xác định CCP trong xây dựng hệ thống HACCP

Các loại Cây quyết định xác định CCP trong xây dựng hệ thống HACCP

Cây quyết định theo hướng dẫn của FDA


Cây quyết định theo hướng dẫn của ISO/TS 22004


Cây quyết định theo hướng dẫn của BRI


Cây quyết định theo hướng dẫn của Codex


Phạm Xuân Tiến

Bảng quy đổi nhiệt độ thanh trùng về chuẩn 70oC trong 2 phút

Bảng quy đổi nhiệt độ thanh trùng về chuẩn 70oC trong 2 phút

Bảng quy đổi nhiệt độ thanh trùng về chuẩn 70oC trong 2 phút Nguồn: BRC Food Issue 7

QCVN 02 - 01: 2009/BNNPTNT - CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY SẢN – ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

QCVN 02 - 01: 2009/BNNPTNT - CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY SẢN – ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

QCVN 02 - 01: 2009/BNNPTNT - CƠ SỞ SẢN XUẤT KINH DOANH THỰC PHẨM THỦY SẢN –   ĐIỀU KIỆN CHUNG ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM

Guideline on HACCP, GMP and GHP for Asian Food SMEs

Guidelines on HACCP, GMP and GHP for ASEAN Food SMEs

A GUIDE OF GOOD PRACTICES FOR THE PRODUCTION OF FOOD THAT IS SAFE FOR HUMAN CONSUMPTION

Guidelines on HACCP, GMP and GHP for ASEAN Food SMEs

Thông tin an toàn về Parabens

Parabens là một nhóm hóa chất được sử dụng rộng rãi với vai trò làm chất bảo quản trong công nghiệp mỹ phẩm, dược phẩm và thực phẩm. Các hợp chất parabens và các muối của chúng được sử dụng chủ yếu nhờ vào đặc tính kháng vi khuẩn và kháng nấm. Parapens “tả xung hữu đột” từ dầu gội đầu, kem cạo râu, kem đánh răng cho tới thực phẩm, thuốc men...
Thông tin an toàn về Paraben Nói một cách màu mè hóa học thì parabens là những esters của para-hydroxybenzoic acid. Những loại parabens thông dụng được ghi trên các nhãn sản phẩm bao gồm methylparaben (ký hiệu E218), ethylparaben (E214), propylparaben (E216)... Trong ngành chế biến thực phẩm, parabens được đưa vào thực phẩm cách nay hơn 50 năm.

Gần đây, có nhiều nghiên cứu cho thấy parabens là những chất có thể gây ra các xáo trộn estrogen nên một số công ty, hãng xưởng đã “ngoan ngoãn” tự cắt giảm lượng parabens trong các sản phẩm của họ. Những nghiên cứu này đã chỉ ra “mặt tối” của parabens bao gồm:

1-Phản ứng dị ứng

Đối với da bình thường, parabens không gây kích ứng hay mẩn cảm, nhưng với những người bị dị ứng với parabens thì sẽ có hiện tượng bị kích ứng.

2-Ung thư nhũ hoa

Parabens có thể “nhái” hormone estrogen vốn làm ngòi nổ cho sự phát sinh ung thư nhũ hoa. Parabens cũng tìm thấy trong các ung bướu nhũ hoa, vì vậy các nhà nghiên cứu khuyên rằng nên thận trọng khi xịt các sản phẩm khử mùi hay sản phẩm bôi thoa có chứa parabens ở gần ngực hoặc trên ngực. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tác hại gây ung thư nhũ hoa của parabens vẫn còn gây nhiều tranh cãi.

3-Tác động lên hệ sinh sản của giống đực

Một nghiên cứu được thực hiện tại Nhật cho thấy rằng tiếp xúc với parabens sẽ tác động lên sự tiết testosterone cũng như những chức năng tổng quát về hệ sinh sản ở chuột đực. Tuy nhiên, đây cũng mới chỉ là thí nghiệm trên thú vật.

4-Lão hóa da

Nhiều nghiên cứu cho thấy khi thoa các mỹ phẩm có chứa methylparaben lên da thì chúng có thể phản ứng với tia UVB làm cho da bị lão hóa một cách nhanh chóng, đồng thời sẽ gây tổn hại cho DNA.

Theo ước tính, trong cuộc sống hiện đại ngày nay, một người “sành điệu” thường “lai rai” một lượng parabens khoảng 77,5 mg mỗi ngày, trong đó từ thực phẩm khoảng 2,5 mg/ngày, từ các sản phẩm chăm sóc cơ thể và mỹ phẩm khoảng 50 mg/ngày, từ dược phẩm và thực phẩm chức năng là 25 mg/ngày.

Vì “nghi án” gây ung thư nên các nhà y học khuyên người tiêu dùng nên hướng đến các sản phẩm không chứa parabens. Các sản phẩm này được ghi một câu “ăn tiền” là không chứa paraben (paraben-free).

Nguồn: dantri.com.vn

Acrylamide (AA): Phân tích HACCP nhóm sản phẩm xử lý nhiệt cần bổ sung

Các chuyên gia y tế vừa lên tiếng cảnh báo nguy cơ ung thư do ăn khoai tây chiên, bánh mỳ và các thực phẩm rán hoặc nướng bỏ lò khác, sau khi phát hiện chúng có chứa một hóa chất độc hại cũng tồn tại trong khói thuốc lá.
Acrylamide (AA): Phân tích HACCP nhóm sản phẩm có xử lý nhiệt cần bổ sung
Cơ quan an toàn thực phẩm châu Âu (EFSA) vừa cho công bố một nghiên cứu xác thực, acrylamide (AA) - chất hình thành khi các thực phẩm được nấu hoặc chế biến ở nhiệt độ cao, tiềm ẩn khả năng gây ung thư.

Cơ quan này khuyến cáo: "AA hình thành trong vô số thực phẩm giàu cácbon hyđrat được rán hoặc nướng bỏ lò, kể cả các món khoai tây chiên, bánh mỳ, bánh quy và cà phê. AA cũng được phát hiện tồn tại trong khói thuốc lá".

Theo EFSA, bằng chứng từ các nghiên cứu trên động vật cho thấy, AA và chất chuyển hóa của nó - glycidamide - làm tổn hại ADN và gây ung thư. Do AA tồn tại trong rất nhiều thực phẩm hàng ngày, nên hiểm họa sức khỏe rình rập mọi người tiêu dùng.

Tuy nhiên, trẻ em được coi là nhóm tuổi tiếp xúc nguy cơ nhiều nhất xét về trọng lượng cơ thể. Khoảng 51% tổng mức phơi nhiễm với AA ở trẻ em là do ăn khoai tây chiên hoặc bánh rán.

Các cuộc khảo sát của FSA cũng hé lộ, nhiều loại thức ăn chế biến sẵn vốn là món khoái khẩu của trẻ em cũng như một số sản phẩm ngũ cốc ăn sáng và thậm chí cả sản phảm dinh dưỡng cho trẻ nhỏ có chứa hàm lượng AA khá cao. Trong đó, hóa chất độc hại này thường xuất hiện ở các sản phẩm tinh bột trong quá trình nấu ở nhiệt độ cao như chiên/rán, nướng bỏ lò, quay và cả trong quy trình chế biến công nghiệp ở nhiệt độ trên 120 độ C.

Khám phá trên của EFSA sẽ được các cơ quan giám sát thực phẩm trên khắp châu Âu sử dụng như căn cứ cho các khuyến nghị an toàn mới đối với người tiêu dùng, đặc biệt là các bậc phụ huynh.

Cơ quan Các tiêu chuẩn thực phẩm Anh đã đưa ra lời khuyên các gia đình chỉ chế biến khoai tây chiên tới màu vàng nhạt và cảnh báo chỉ nên nướng bánh mỳ tới màu nhạt nhất có thể. Với các phát hiện của EFSA, nhà chức trách Anh có thể phải xem lại lời khuyến nghị của mình và đưa thêm hướng dẫn các bậc cha mẹ về giới hạn số lần nên cho con trẻ ăn khoai tây chiên mỗi tuần.

Nguồn: http://vietnamnet.vn