Showing posts with label ATLĐ. Show all posts

ISO/DIS 45001:2016 - Tiêu chuẩn ISO về an toàn lao động và sức khoẻ nghề nghiệp

Tiêu chuẩn ISO về an toàn lao động và sức khoẻ nghề nghiệp

Tư thế đứng không đúng gây đau lưng

Theo Hiệp hội nắn xương khớp (Anh), tư thế đứng của phụ nữ quyết định cơn đau lưng của người đó. Trong đó, tư thế đầu nghiêng về phía trước dễ bị đau lưng nhất.

Một cuộc khảo sát trên với 1.200 phụ nữ tham gia và chủ yếu nhắm vào đối tượng là phụ nữ có hình dáng trái táo với vòng ngực “khủng”.

Theo đó, 1/4 số phụ nữ bị đau kéo dài từ một đến ba ngày bắt đầu ở tuổi tương đối trẻ, tuổi 34. Tư thế “tháp nghiêng” - đầu nghiêng về phía trước là tư thế đau lưng nhất. Tư thế “chiếc cầu” - lưng hình cung là tư thế tệ nhất thứ hai, theo sau là tư thế “cái thìa” - lưng cong và vai tròn.

Những người giữ lưng thẳng hầu hết tránh được cơn đau lưng. Tư thế hoàn hảo nhất để ngừa đau lưng là tai, vai, hông, đầu gối và mắt cá chân thẳng hàng. Tư thế đứng không đúng gây đau lưng Theo các nhà nghiên cứu, những người muốn cải thiện cơn đau lưng và các triệu chứng đau cổ nên thử tưởng tượng họ có một sợi dây treo thẳng từ tai đến mắt cá chân, và cố giữ sợi dây dọc thẳng ở phần giữa của các phần cơ thể gồm tai, vai, hông, đầu gối và mắt cá chân. Để làm điều này cần đứng một cách thoải mái và sau đó nhẹ nhàng thóp cơ bụng. Khi ngồi, trọng lực nên tập trung vào tai, vai và hông.

Nguồn: thanhnien.com.vn

ISO 45001 bước sang giai đoạn mới

Cập nhật: Tiêu chuẩn ISO 45001:2016 DIS xem tại đây

Hơn 6300 người chết mỗi ngày (gần 2.3 triệu mỗi năm) do tai nạn lao động hoặc bệnh tật.

Thương tật và bệnh nghề nghiệp là gánh nặng cho cả người lao động và các nền kinh tế, đưa đến thiệt hại từ nghỉ hưu sớm, nhân viên vắng mặt và phí bảo hiểm tăng.

Để giải quyết vấn đề, ​​ISO đang phát triển một tiêu chuẩn mới, ISO 45001 Hệ thống Quản lý Sức khỏe - An toàn nghề nghiệp - Các yêu cầu, tiêu chuẩn này sẽ giúp các tổ chức giảm gánh nặng liên quan thông qua việc cung cấp một khuôn khổ để cải thiện an toàn lao động, giảm thiểu rủi ro tại nơi làm việc và tạo điều kiện làm việc an toàn hơn tốt hơn.

Tiêu chuẩn này hiện đang được phát triển bởi một Ủy ban gồm các chuyên gia về sức khỏe và an toàn lao động, và sẽ thực hiện theo cách tiếp cận hệ thống quản lý như ISO 14001 và ISO 9001. Các tiêu chuẩn quốc tế khác trong lĩnh vực này như OHSAS 18001, quốc tế Tổ chức Lao động Hướng dẫn ILO-OSH, tiêu chuẩn quốc gia và các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO và các công ước cũng được tính đến.

Tiêu chuẩn này dành cho ai?

ISO 45001 nhằm cho việc sử dụng mọi tổ chức, bất kể quy mô hoặc tính chất công việc của mình, và có thể được tích hợp vào các chương trình sức khỏe và an toàn khác như chăm sóc sức khỏe người lao động và phúc lợi. Nó cũng giải quyết được nhiều, nếu không phải tất cả, các yêu cầu pháp lý trong lĩnh vực này.

Khi nào ban hành?

Các dự thảo sẽ sẵn có một khi nó đạt đến giai đoạn điều tra công khai (DIS) và giai đoạn dự thảo cuối cùng (FDI) vào cuối năm nay, trước khi tiêu chuẩn được công bố vào tháng 10 năm 2016.

Nguồn: iso.org

Quốc hội thông qua Luật an toàn, vệ sinh lao động

Sáng 25/6, với 439 số phiếu tán thành, chiếm tỷ lệ 88,87%, Quốc hội đã thông qua Luật an toàn, vệ sinh lao động.
Luật an toàn, vệ sinh lao động Luật an toàn, vệ sinh lao động gồm 7 Chương và 93 Điều, quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.

Luật an toàn, về sinh lao động quy định: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, vệ sinh lao động; yêu cầu người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động, tại nơi làm việc; được cung cấp thông tin đầy đủ về các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc và những biện pháp phòng, chống; được đào tạo, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động.

Người lao động được thực hiện chế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; được người sử dụng lao động đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; được hưởng đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; được trả phí khám giám định thương tật, bệnh tật do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động và được trả phí khám giám định trong trường hợp kết quả khảm giám định đủ điều kiện để điều chỉnh tăng mức hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; được bố trí công việc phù hợp sau khi điều trị ổn định do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Người lao động cũng có quyền từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc mà vẫn được trả đủ tiền lương và không bị coi là vi phạm kỷ luật lao động khi thấy rõ có nguy cơ ngay lập tức xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình nhưng phải báo ngay cho người quản lý trực tiếp để có phương án xử lý.

Người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động được pháp luật bảo vệ quyền được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh lao động; được Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh lao động; được tiếp nhận thông tin, tuyên truyền, giáo dục về công tác an toàn, vệ sinh lao động; được huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động khi làm các công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động; tham gia và hưởng bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện do Chính phủ quy định; khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện đối với hành vi vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

Luật an toàn vệ sinh lao động cũng quy đinh người sử dụng lao động có nghĩa vụ xây dựng, tổ chức thực hiện và chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình cho người lao động và những người có liên quan; đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động; tổ chức huấn luyện, hướng dẫn người lao động các quy định và biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động; thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; thực hiện đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

Luật an toàn, vệ sinh lao động có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016.

Nguồn: quochoi.vn

An toàn lao động: Đề phòng và xử trí ngộ độc khí CO

An toàn lao động: Đề phòng và xử trí ngộ độc khí CO Monoxyt cacbon (CO) là một loại khí không gây kích thích, không vị, không mùi, được sinh ra do sự đốt cháy không hoàn toàn các chất có thành phần carbon như: than, dầu diezen và các chất đốt khác… Nguồn CO trong môi trường còn là khói thuốc lá, khói thải của xe hơi, đun nấu, sưởi bằng than. Một số hóa chất như chlorur mythylen được chuyển thành CO trong cơ thể.

CO xâm nhập cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp... Các tổn thương đầu tiên của nhiễm độc CO xảy ra với hệ thần kinh trung ương (vỏ não, nhân dưới vỏ não, đồi thị) kéo theo tổn thương cả thần kinh ngoại biên. Bên cạnh sự phát triển các tổn thương thần kinh, CO còn gây rối loạn tuần hoàn mạch, làm tăng tính thấm của mạch máu, nhất là các mao mạch, gây xuất huyết ở hàng loạt các cơ quan: não, phổi, đường tiêu hóa.

Biểu hiện

Nhiễm độc cấp tính: Các triệu chứng nhiễm độc tùy theo mức độ nặng, nhẹ phụ thuộc vào nồng độ CO trong không khí, thời gian tiếp xúc và đặc điểm mẫn cảm của từng cá thể và chủ đạo là các biểu hiện tổn thương thần kinh trung ương.

Thể nhẹ: Bệnh nhân cảm thấy nặng đầu, đau nhói hai bên thái dương và vùng trán, choáng váng, ù tai, hoa mắt, xa xẩm mày mặt, run chân tay, đau thắt ngực, mệt, buồn nôn, nôn. Da và niêm mạc của bệnh nhân hồng hào. Nhịp tim, mạch nhanh, thở nhanh, rối loạn.

Nếu được chuyển ra khỏi khu vực ô nhiễm CO, được thở không khí giàu oxy, các biểu hiện bệnh thuyên giảm dần, bệnh nhân có thể khỏe mạnh trở lại sau 1-2 ngày.

Đối với công nhân đã có bệnh tim mạch hoặc bệnh mạch máu ở não, có chứng đột quỵ (stroke), cơn đau tim, nhồi máu cơ tim, bệnh có thể nặng lên khi chỉ mới tiếp xúc với một lượng CO hơi tăng. Sự tiếp xúc mạn tính với lượng CO thấp có thể gây biến đổi nhẹ về thần kinh, tăng huyết khối và ở phụ nữ mang thai có những biến đổi ở bào thai.

Thể nặng: Các triệu chứng nhiễm độc có thể kéo dài vài ngày, bệnh nhân thờ ơ, vô cảm, dần chuyển sang mê sảng, suy giảm, mất trí nhớ, co giật cơ, ngất, đồng tử giãn, phản xạ yếu với ánh sáng, giảm phản xạ cơ-gân, cứng gáy. Thở nông, nhanh, mạch nhanh, yếu, giảm trương lực cơ, đặc biệt là chi dưới, bệnh nhân không đứng được, hai chân run, co giật, chuyển sang liệt không đi được. Nếu bệnh nhân mê sảng lâu (trên 48 giờ), tiên lượng xấu. Trong các trường hợp thuận lợi, bệnh nhân tỉnh dần, khi đó có các biểu hiện bứt rứt, kích động.

Khi khám thấy viêm họng, phù nề thanh quản, thở rít, sau 2-3 ngày có thể thấy triệu chứng viêm phế quản-phổi, tổn thương do thiếu oxy mô phổi, xuất huyết; rối loạn nhịp tim, nhịp nhanh, huyết áp tụt, thiếu máu cơ tim; ban đỏ, mề đay, hoại thư.

Nhiễm độc mạn tính

Các triệu chứng nhiễm độc CO mạn tính không điển hình, chỉ có giá trị khi phối hợp với các yếu tố tiếp xúc hay hoàn cảnh phát sinh bệnh. Chủ yếu là các triệu chứng liên quan tới tổn thương thần kinh.

Nhức đầu thường là dấu hiệu đầu tiên, rất hay gặp, đau nhói từng cơn dữ dội. Đau đầu tăng trong ngày lao động, nhiều nhất là vào cuối ca, trong suốt tuần lao động và giảm bớt đau trong ngày nghỉ cuối tuần; bệnh nhân có cảm giác đứng không vững, thể lực giảm sút; chóng mặt.

Ngoài ra còn gặp các triệu chứng khác như: rối loạn tiêu hóa (ăn không ngon, hay buồn nôn), ho, khó thở gắng sức, hồi hộp, lo âu, đau vùng tim, hay buồn ngủ, rối loạn cảm giác, rối loạn thị giác: ruồi bay, ám điểm, biến đổi vi trường.

Các rối loạn do nhiễm độc CO nghề nghiệp không thể hết được nếu còn tiếp tục tiếp xúc. Bệnh giảm nhanh khi ngừng tiếp xúc, các rối loạn chức năng giảm đi rõ rệt vào tuần thứ 2-3, bệnh khỏi trong vòng 1-2 tháng.

Dự phòng ngộ độc CO cách nào?

Lắp đặt hệ thống thông gió, hút bụi, hơi khí độc nơi sản xuất; Giám sát thường xuyên nồng độ CO trong không khí môi trường lao động đối với các ngành nghề có nguy cơ nhiễm độc CO; Cung cấp oxy đầy đủ khi đốt các vật liệu có cacbon sẽ giảm sự phát sinh CO. Thông gió đối với lò. Nơi xảy ra hỏa hoạn, phải có trang bị phòng hộ, có dụng cụ thở; Trang bị mặt nạ cho công nhân làm việc ở những vùng ô nhiễm CO cao.

Xử trí thế nào?

Phải đưa nạn nhân ra khỏi vùng tiếp xúc cho thở oxy nhiều lần trong ngày (3-4 lần/ngày, mỗi lần 10-20 phút).

Dùng oxy cao áp có nhiều vấn đề phải giải quyết. Ðộc tính của oxy, tính gây ngủ của nitơ và bệnh giảm áp có thể xảy ra. Nếu dùng oxy cao áp để điều trị nhiễm độc CO, cần phải để nạn nhân thở oxy 100% trong thời gian chuyển tới phòng tăng áp.

Nạn nhân nhiễm độc CO phải được theo dõi chặt chẽ, đề phòng phù não nặng có thể xảy ra trong vài giờ. Tổn thương nhẹ hệ thần kinh, hệ tim mạch và thai có thể xảy ra nếu có tình trạng giảm oxy tế bào.

Theo TS. Nguyễn Văn Sơn
http://suckhoedoisong.vn