Tiêu chuẩn ISO 28001:2007 - Bản chuyển ngữ Tiếng Việt (TCVN)

HỆ THỐNG QUẢN LÝ AN TOÀN CHUỖI CUNG ỨNG - THỰC HÀNH TỐT ÁP DỤNG AN TOÀN CHUỖI CUNG ỨNG, ĐÁNH GIÁ VÀ HOẠCH ĐỊNH - YÊU CẦU VÀ HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG

Tiêu chuẩn FSSC 22000 phiên bản 4.1 - Bản chuyển ngữ Tiếng Việt

Tieu chuan FSSC 22000 phien ban 4.1

FSSC 22000 phiên bản 4 đã được phát hành 12-2016. Sau đó đã có vài phát triển đưa đến bản thảo FSSC 22000 4.1:

  1. Phiên bản GFSI 7.0 vào tháng 3.2017 và phiên bản 7.1 vào tháng 5 và sắp phát hành phiên bản 7.2
  2. Đánh giá FSSC 22000 phiên bản 4.1 theo thủ tục European Accreditation EA-1/22 bởi Dutch Accreditation Council (RvA)
  3. Nhu cầu làm rõ và hiệu chỉnh nội dung FSSC 22000 phiên bản 4.0 theo các phản hồi nhận được từ các ngành công nghiệp, tổ chức chứng nhận và tổ chức công nhận.

FSSC 22000 phiên bản 4.1 bắt đầu có hiệu lực từ 1.1.2018.

Tiêu chuẩn ISO 20400:2017 - Hướng dẫn về mua hàng

Một hướng dẫn của ISO về mua hàng

Một ví dụ về sử dụng 5WHY

Một trong các phương pháp điều tra nguyên nhân gốc rễ là 5WHY, tức là đặt câu hỏi TẠI SAO? năm lần về vấn đề gặp phải để tìm được nguyên nhân gốc rễ của vấn đề hiện hữu / tiềm ẩn từ đó xác định các hành động ngăn ngừa tái diễn / ngăn ngừa xảy ra.

Phương pháp 5WHY đơn giản có thể minh họa như:

  1. Tại sao [VẤN ĐỀ] đã xảy ra / có thể sẽ xảy ra? --> [TRẢ LỜI 1]
  2. Tại sao [TRẢ LỜI 1] đã xảy ra / có thể sẽ xảy ra? --> [TRẢ LỜI 2]
  3. Tại sao [TRẢ LỜI 2] đã xảy ra / có thể sẽ xảy ra? --> [TRẢ LỜI 3]
  4. Tại sao [TRẢ LỜI 3] đã xảy ra / có thể sẽ xảy ra? --> [TRẢ LỜI 4]
  5. Tại sao [TRẢ LỜI 4] đã xảy ra / có thể sẽ xảy ra? --> [TRẢ LỜI 5]

[TRẢ LỜI 5] được xem là nguyên nhân gốc rễ cần có hành động loại bỏ, ngăn ngừa hoặc giảm thiểu đến mức chấp nhận được.

Về lý thuyết thì đơn giản vậy, nhưng trong thực hành nhiều bạn còn lúng túng trong việc áp dụng 5WHY. Lý do chính của việc áp dụng 5WHY không thành công đó là KHÔNG GIÁM CHỊU TRÁCH NHIỆM 100%, hay nói một cách khác là THIẾU TINH THẦN LÀM CHỦ. Điều này đưa đến tình trạng đổ thừa (tìm nguyên cớ thay vì nguyên nhân).

Hãy xem tình huống: Tại Công ty nọ, một hôm vị Giám đốc xuống xưởng thì thấy công nhân đang ngồi chơi, không tiến hành sản xuất, đây chính là một VẤN ĐỀ đã xảy ra.

Các trường hợp áp dụng 5WHY có thể được áp dụng:

Trường hợp 1: Đích thân vị Giám đốc tiến hành điều tra nguyên nhân.

  1. Vị Giám đốc bắt đầu hỏi Quản đốc: Tại sao công nhân ngồi chơi [VẤN ĐỀ] mà không làm việc? Quản đốc trả lời: Dạ, tại vì máy xay ở công đoạn xay trộn bị hư, đang chờ sửa chữa.
  2. Vị Giám đốc hỏi tiếp: Tại sao [MÁY XAY BỊ HƯ]? Quản đốc ú ớ, nên ông gặp Trưởng phòng Bảo trì để hỏi lại câu này và nhận được câu trả lời như sau: Máy bị BỂ Ổ BI --> KẸT TRỤC --> CHÁY MÔ TƠ.
  3. Vị Giám đốc lại hỏi Trưởng phòng Bảo trì: Tại sao [Ổ BỊ LẠI BỊ BỂ]? Trưởng phòng Bảo trì trả lời: Tại cũ quá rồi, không thay thì nó bể chứ sao?
  4. Lúc này vị Giám đốc bực mình hỏi: Tại sao [KHÔNG THAY THẾ ĐỊNH KỲ]? Trưởng phòng Bảo trì đang loay hoay phụ sửa máy với nhân viên liên trả lời: Có đâu mà thay Sếp, tồn kho đề nghị mấy lần rồi có mua đâu!
  5. Vị Giám đốc bỏ đi về phòng Vật tư, ông liền hỏi: Tại sao [KHÔNG MUA VẬT TƯ TỒN KHO] để bảo trì họ thay định kỳ? Để giờ máy hỏng đột xuất công nhân ngồi chơi? Trưởng phòng Vật tư cho biết: Dạ, em đã đề nghị mấy lần nhưng SẾP CHƯA KÝ!
Trường hợp này NGUYÊN NHÂN GỐC chính là SẾP KHÔNG XEM XÉT PHÊ DUYỆT NGAY CÁC ĐỀ XUẤT MUA VẬT TƯ. Đây chính là trách nhiệm của Giám đốc. Điều này cũng có thể xảy ra với các trường hợp khác.

Trường hợp 2: Giám đốc chỉ đạo Trưởng phòng Bảo trì điều tra nguyên nhân

  1. Trưởng phòng Bảo trì hỏi: Tại sao công nhân ngồi chơi [VẤN ĐỀ] mà không làm việc? Rồi anh ta tự trả lời: Tại vì máy xay ở công đoạn xay trộn bị hư, đang chờ sửa chữa.
  2. Trưởng phòng Bảo trì tiếp tục hỏi: Tại sao [MÁY XAY BỊ HƯ]? Rồi anh ta tự trả lời: Máy bị BỂ Ổ BI --> KẸT TRỤC --> CHÁY MÔ TƠ
  3. Trưởng phòng Bảo trì tiếp tục hỏi: Tại sao [Ổ BỊ LẠI BỊ BỂ]? Rồi anh ta tự trả lời: Tại cũ quá rồi, không thay thì nó bể chứ sao?
  4. Trưởng phòng Bảo trì tiếp tục hỏi: Tại sao [KHÔNG THAY THẾ ĐỊNH KỲ]? Rồi anh ta tự trả lời: Có đâu mà thay Sếp, tồn kho đề nghị mấy lần rồi có mua đâu!
  5. Trưởng phòng Bảo trì tiếp tục hỏi: Tại sao [MÌNH KHÔNG BÁO CÁO GIÁM ĐỐC] về việc này?
Trường hợp này NGUYÊN NHÂN GỐC chính là KHÔNG BÁO CÁO GIÁM ĐỐC VỀ CÁC KHÓ KHĂN VÀ RỦI RO LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG VIỆC. Đây chỉnh là trách nhiệm của Trưởng phòng Bảo trì. Điều này cũng có thể xảy ra với các trường hợp khác.

Trường hợp 3: Giám đốc chỉ đạo Quản đốc điều tra nguyên nhân

  1. Quản đốc hỏi: Tại sao công nhân ngồi chơi [VẤN ĐỀ] mà không làm việc? Rồi anh ta tự trả lời: Tại vì máy xay ở công đoạn xay trộn bị hư, đang chờ sửa chữa.
  2. Quản đốc tiếp tục hỏi: Tại sao [MÁY XAY BỊ HƯ]?, anh ta không biết nên hỏi Trưởng phòng Bảo trì và nhận được câu trả lời: Máy bị BỂ Ổ BI --> KẸT TRỤC --> CHÁY MÔ TƠ.
  3. Quản đốc tiếp tục hỏi: Tại sao [Ổ BỊ LẠI BỊ BỂ]? Trưởng phòng Bảo trì trả lời: Tại cũ quá rồi, không thay thì nó bể chứ sao?
  4. Quản đốc tự hỏi: Tại sao [MÌNH KHÔNG PHÁT HIỆN CÁC DẤU HIỆU BÁO TRƯỚC]? Rồi anh ta tự trả lời: Chưa có các hướng dẫn nhận biết tình trạng bất thường của thiết bị
  5. Quản đốc tiếp tục hỏi: Tại sao [CHƯA CÓ CÁC HƯỚNG DẪN] về việc này? Rồi anh ta tự trả lời: Vì chưa làm việc với bảo trì về các đặc tính cần kiểm soát lúc vận hành thiết bị.
Trường hợp này NGUYÊN NHÂN GỐC chính là CHƯA LÀM VIỆC VỚI BẢO TRÌ VỀ CÁC ĐẶC TÍNH CẦN KIỂM SOÁT LÚC VẬN HÀNH THIẾT BỊ. Đây chính là trách nhiệm của Quản đốc. Điều này cũng có thể xảy ra với các trường hợp khác.

Trường hợp 4: Giám đốc chỉ đạo Trưởng phòng Vật tư điều tra nguyên nhân

  1. Trưởng phòng Vật tư hỏi: Tại sao công nhân ngồi chơi [VẤN ĐỀ] mà không làm việc? Anh ta không biết nên tìm Quản đốc để hỏi và được biết: Tại vì máy xay ở công đoạn xay trộn bị hư, đang chờ sửa chữa.
  2. Trưởng phòng Vật tư tiếp tục hỏi: Tại sao [MÁY XAY BỊ HƯ] anh ta không biết nên tìm Trưởng phòng Bảo trì để hỏi và được biết: Máy bị BỂ Ổ BI --> KẸT TRỤC --> CHÁY MÔ TƠ.
  3. Quản đốc tiếp tục hỏi: Tại sao [Ổ BỊ LẠI BỊ BỂ]? Trưởng phòng Bảo trì trả lời: Tại cũ quá rồi, không thay thì nó bể chứ sao?
  4. Trưởng phòng Vật tư tiếp tục hỏi: Tại sao [KHÔNG THAY THẾ ĐỊNH KỲ]? Và nhận được câu trả lời: Có đâu mà thay, tôi đề nghị mấy lần rồi mà ông có mua đâu
  5. Trưởng phòng Vật tư tự hỏi: Tại sao mình [KHÔNG MUA]? Rồi anh ta tự trả lời: Mình đã đề nghị Sếp nhiều lần nhưng Sếp chưa ký, do mình KHÔNG BÁO CÁO GIÁM ĐỐC VỀ CÁC KHÓ KHĂN VÀ RỦI RO LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG VIỆC.
Trường hợp này NGUYÊN NHÂN GỐC chính là KHÔNG BÁO CÁO GIÁM ĐỐC VỀ CÁC KHÓ KHĂN VÀ RỦI RO LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG VIỆC. Đây chính là trách nhiệm của Trưởng phòng Vật tư. Điều này cũng có thể xảy ra với các trường hợp khác.

Như vậy, tổng hợp cả 04 trường hợp nêu trên có thể thấy được các nguyên nhân chính sau đây:

  1. KHÔNG XEM XÉT PHÊ DUYỆT NGAY CÁC ĐỀ XUẤT MUA VẬT TƯ - Điều này thuộc phạm vi của Giám đốc
  2. KHÔNG BÁO CÁO GIÁM ĐỐC VỀ CÁC KHÓ KHĂN VÀ RỦI RO LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG VIỆC - Điều này thuộc phạm vi trách nhiệm của Trưởng phòng Bảo trì & Trưởng phòng Vật tư.
  3. CHƯA LÀM VIỆC VỚI BẢO TRÌ VỀ CÁC ĐẶC TÍNH CẦN KIỂM SOÁT LÚC VẬN HÀNH THIẾT BỊ - Điều này thuộc phạm vi trách nhiệm của Quản đốc.

Chúc các bạn thành công!

Phạm Xuân tiến

Cập nhật tiêu chuẩn IFS Food phiên bản 7

Ủy ban Kỹ thuật Quốc tế IFS đã quyết định phát hành một phiên bản sửa đổicủa IFS 6 vào tháng 11-2017, phiên bản này sẽ bao gồm vài yêu cầu bổ sung. Phiên bản này sẽ bao gồm chủ yếu các nội dung của phiên bản hiện hành IFS Food phát hành 4.2014, tham chiếu đến IFS Food Doctrine và ngoài ra một chương mới 4.21 "Thực phẩm giả mạo" được bổ sung. Phiên bản sửa đổi này sẽ được áp dụng từ 01 tháng 6 năm 2018.

IFS sẽ nộp đơn đối sánh IFS Food Version 6.1 tháng 11.2017 IFS với GFSI theo GFSI phiên bản 7.1.

IFS sẽ tiếp tục phát triển phiên bản IFS Food Version 7. Nó được hoạch định để tăng cường tiếp cận về quá trình và sản phẩm của IFS. Các chủ đề chính của IFS Food Version 7 sẽ thích hợp với phiên bản mới của Codex Alimentarius, bao gồm tính nhất quán của sản phẩm được lưu hành trong quản lý chuỗi cung ứng và tập trung vào các yêu cầu bao gói trong các quá trình thiết kế và đóng gói.

Ủy ban Kỹ thuật Quốc tế IFS sẽ quyết định về các thay đổi chính trong phiên bản mới vào mùa xuân hoặc đầu mùa hè 2018 và sau đó phiên bản 7 được hoạch định để phát hành trễ nhất vào cuối quý 4 năm 2018.

Theo IFS Team

Tinh thần làm chủ

Chuyện kể rằng có một chiếc thuyền nọ đang lênh đênh trên biển, chẳng hiểu vì lý do gì mà vỏ thuyền lại bị thủng 03 lỗ, phía đầu 01 lỗ, đoạn giữa 01 lỗ và ở đuôi 01 lỗ, nước bắt đầu tràn vào trong thuyền qua các lỗ thủng và nếu không có hành động kịp thời thì thuyền sẽ chìm. Người thuyền trưởng họp khẩn tất cả những người trên thuyền và họ cùng thảo luận nên làm thế nào.

Sau một hồi lâu thảo luận, cuối cùng họ đi đến quyết định:

  • Chia người trên thuyền làm 03 nhóm
  • Mỗi nhóm chịu trách nhiệm xử lý một lỗ thủng.

Sau khi thống nhất, các nhóm nhanh chóng bắt tay vào công việc khắc phục lỗ thủng mà nhóm mình phụ trách. Họ tất bật với các công việc xem xét lỗ thủng, tìm kiếm công cụ và vật tư hiện có trên thuyền, trong điều kiện rất hạn chế về thời gian, công cụ và vật tư, họ bắt đầu gây gổ và đổ thừa lẫn nhau, nào là công tác bảo trì thuyền đã không được làm tốt bởi xưởng bảo trì và đại tu thuyền trên bờ, nào là đơn vị kỹ thuật đã không chịu kiểm tra kỹ lưỡng thuyền trước khi khởi hành, để bây giờ họ phải lãnh hậu quả thế này, nào là các thành viên nhóm không chịu chủ động tham gia vào công việc khắc phục hiện tại, nào là sự phân công không công bằng của thuyền trưởng, nào là thiếu thốn công cụ dụng cụ và vật tư,...

Tuy nhiên, họ vẫn phải khắc phục lỗ thủng mình đã được giao. Sau một khoảng thời gian, nhóm thứ nhất họ đã bịt được lỗ thủng, nước không chảy vào thuyền qua lỗ thủng này nữa. Cả nhóm vui mừng với thành quả của mình, trưởng nhóm này quyết định cả nhóm cần nghỉ ngơi và tổ chức ăn mừng thành quả đạt được với vài chai rượu và lương thực có sẵn trên thuyền mà họ có mang theo lúc khởi hành. Thực sự, lúc đó họ chẳng nghĩ gì đến việc các nhóm khác đã hoàn thành nhiệm vụ hay chưa.

Đến lượt nhóm thứ hai, sau một hồi lâu vật lộn họ cũng hoàn thành được việc khắc phục lỗ thủng mình phụ trách. Họ nghĩ, chúng ta thật tuyệt vời, với điều kiện khó khăn như thế mà chúng ta vẫn hoàn thành nhiệm vụ, mặc dù nước vẫn còn rỉ rỉ vào chút ít, nhưng với điều kiện thực tế, kết quả như vậy đã là quá xuất sắc rồi. Họ quyết định nghỉ ngơi, và cần ăn uống chút gì đó để mừng thành quả này. Ngay lúc đó, họ thấy có người của nhóm một đang chuẩn bị thức ăn và rượu, họ liền hỏi thăm và biết nhóm này cũng đã hoàn thành nhiệm vụ, họ liền nhập chung với nhóm một để ăn mừng thành quả.

Trong lúc ăn mừng thành quả, các thành viên nhóm một và nhóm hai nói chuyện rôm rả, họ kể về các khó khăn và cách họ khắc phục lỗ thủng, họ khen nhau đã tài giỏi như thế nào, trong điều kiện khó khăn và cấp bách như thế. Họ cùng nhau bàn tính xem khi về đất liền sẽ đề nghị cấp trên khen thưởng thế nào với thành quả này và đề xuất kỷ luật các bộ phận trên bờ vì lý do thiếu trách nhiệm như thế nào. Họ ca hát rôm rả cả con thuyền.

Trong lúc đang vật lộn với lỗ thủng mình phụ trách, các thành viên nhóm ba nghe thấy tiếng hát của hai nhóm còn lại trên thuyền, họ liền cử người xem có chuyện gì, người này về thông tin cho họ biết các nhóm kia đã thực hiện xong nhiệm vụ và đang ăn mừng. Các thành viên nhóm ba rất bực mình vì chuyện này, họ nói chuyện với nhau về thuyền trưởng giao nhiệm vụ không công bằng, nhóm họ nhận lỗ thủng quá lớn, các nhóm kia không có tinh thần hỗ trợ đồng đội,...Tuy nhiên, họ không hề cử người hay đích thân nhóm trưởng đi yêu cầu trợ giúp. Họ nghĩ, chúng ta mà làm không xong thì có mà chết cả đám, ở đó mà ăn mừng.

Kết cục là, nhóm ba đã không hoàn thành nhiệm vụ, nước vào thuyền ngày càng nhiều đến mức không thể cứu vãn và cuối cùng thuyền chìm!

Lời bàn: "Tinh thần làm chủ" không có nghĩa là hoàn thành nhiệm vụ được giao, nhưng có nghĩa là đảm bảo đạt được các mục đích chung, trong câu chuyện này chính là "thuyền không chìm"

Phạm Xuân Tiến

Tiêu chuẩn FAMI-QS Version 6 - Bản chuyển ngữ Tiếng Việt

Tiêu chuẩn fami-qs version 6 - phiên bản tiếng việt

Tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017 FDIS (Bản chuyển ngữ Tiếng Việt)

Tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017 FDIS

Tiêu chuẩn ISO/IEC 17025:2017 FDIS

ISO/IEC 17025:2017 đã đến giai đoạn sửa đổi sau cùng

Hiệu chuẩn cũng như thử nghiệm và phân tích mẫu được thực hiện hàng ngày tại hơn 60 000 phòng thí nghiệm trên toàn thế giới, nhưng làm thế nào để họ có thể đảm bảo với khách hàng về độ tin cậy của kết quả?

ISO/IEC 17025:2017 đã đến giai đoạn sửa đổi sau cùng

Trong những năm qua, ISO / IEC 17025, Các yêu cầu chung về năng lực của các phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn đã trở thành tài liệu tham khảo quốc tế cho các phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn muốn chứng minh khả năng mang lại kết quả đáng tin cậy. Tiêu chuẩn quốc tế, được xuất bản bởi ISO và IEC (International Electrotechnical Commission), đưa ra một loạt các yêu cầu cho phép các phòng thí nghiệm nâng cao khả năng tạo ra các kết quả có giá trị tin cậy ổn định.

Tuy nhiên, môi trường phòng thí nghiệm đã thay đổi đáng kể kể từ khi tiêu chuẩn được công bố lần cuối, dẫn đến quyết định sửa đổi tiêu chuẩn và tích hợp những thay đổi đáng kể. Steve Sidney, một trong những Uỷ viên của Nhóm làm việc sửa đổi tiêu chuẩn, giải thích: "Phiên bản mới nhất của ISO / IEC 17025 đã được xuất bản vào năm 2005. Kể từ đó, điều kiện thị trường đã thay đổi và chúng tôi cảm thấy chúng tôi có thể mang lại một số cải tiến cho tiêu chuẩn."

Heribert Schorn, thành viên hội thảo Convenor, người tham gia IECEE (Hệ thống Các Đề án Đánh giá Sự phù hợp cho Thiết bị Điện và Linh kiện), bổ sung: "Việc sửa đổi cần thiết để bao quát tất cả những thay đổi về mặt kỹ thuật, sự phát triển kỹ thuật và sự phát triển của kỹ thuật IT mà ngành công nghiệp đã nhìn thấy kể từ phiên bản cuối cùng. Ngoài ra, tiêu chuẩn này còn phải xem xét phiên bản mới của ISO 9001."

Tiêu chuẩn này có ý nghĩa rất quan trọng đối với Cộng đồng đánh giá sự phù hợp của IEC vì nó nêu các yêu cầu cơ bản cho việc kiểm tra trong tất cả các Chương trình Đánh giá Sự phù hợp và các chương trình hoạt động trong Hệ thống Đánh giá Hợp chuẩn IECEE, IECEx, IECQ và IECRE.

Việc xem xét được bắt đầu vào tháng 2 năm 2015 theo đề xuất của Tổ chức Hợp tác Công nhận Phòng thí nghiệm Quốc tế (ILAC) và Văn phòng Tiêu chuẩn Nam Phi (SABS), thành viên của ISO và là thành viên của Uỷ ban Quốc gia IEC. Quá trình sửa đổi tiêu chuẩn đã đạt đến giai đoạn Tiêu chuẩn Quốc tế Bản thảo cuối cùng (Final Draft International Standard - FDIS), giai đoạn cuối cùng trước khi xuất bản.

Những thay đổi chính

Việc sửa đổi ISO / IEC 17025 có tính đến các hoạt động và cách làm việc mới của các phòng thí nghiệm ngày nay. Những thay đổi chính như sau:

  1. Phương pháp tiếp cận hiện nay phù hợp với các tiêu chuẩn mới hơn như ISO 9001 (quản lý chất lượng), ISO 15189 (chất lượng phòng thí nghiệm y tế) và ISO / IEC 17021-1 (yêu cầu đối với các cơ quan đánh giá và chứng nhận). Tiêu chuẩn sửa đổi nhấn mạnh vào kết quả của một quá trình thay vì mô tả chi tiết các nhiệm vụ và các bước của nó.
  2. Với sự tập trung mạnh hơn vào công nghệ thông tin , tiêu chuẩn hiện nay nhận ra và kết hợp việc sử dụng hệ thống máy tính, hồ sơ điện tử và sản xuất các kết quả và báo cáo điện tử. Các phòng thí nghiệm hiện đại ngày càng làm việc với các công nghệ thông tin và truyền thông và Nhóm làm việc cảm thấy cần thiết phải phát triển một chương về chủ đề này.
  3. Phiên bản mới của tiêu chuẩn bao gồm một chương về tư duy dựa trên rủi ro và mô tả những điểm tương đồng với phiên bản mới của ISO 9001: 2015, Hệ thống quản lý chất lượng - Yêu cầu.
  4. Thuật ngữ đã được cập nhật để phù hợp với thế giới ngày nay và thực tế là các hướng dẫn sử dụng, hồ sơ và báo cáo văn bản cứng đang dần dần được loại bỏ và thay thế bằng các phiên bản điện tử. Ví dụ bao gồm những thay đổi trong Từ vựng Đo lường Quốc tế (VIM) và sự liên kết với thuật ngữ ISO / IEC, có một tập các thuật ngữ và định nghĩa chung cho tất cả các tiêu chuẩn đánh giá sự phù hợp.
  5. Một cấu trúc mới đã được áp dụng để phù hợp tiêu chuẩn với các tiêu chuẩn đánh giá sự phù hợp khác của ISO / IEC như tiêu chuẩn ISO / IEC 17000 về đánh giá sự phù hợp.
  6. Phạm vi đã được sửa đổi để bao gồm tất cả các hoạt động phòng thí nghiệm bao gồm kiểm tra, hiệu chuẩn và lấy mẫu liên quan đến hiệu chuẩn và thử nghiệm tiếp theo.

Sử dụng ISO / IEC 17025 tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa các phòng thí nghiệm và các cơ quan khác. Nó giúp hỗ trợ việc trao đổi thông tin và kinh nghiệm và giúp hài hoà các tiêu chuẩn và thủ tục, như Warren Merkel, một người khác của nhóm làm việc, giải thích. "ISO / IEC 17025 ảnh hưởng đến kết quả của các phòng thí nghiệm bằng nhiều cách. Tiêu chuẩn yêu cầu họ phải đáp ứng các tiêu chuẩn về năng lực của nhân viên, hiệu chuẩn và bảo trì thiết bị của họ và các quy trình tổng thể mà họ sử dụng để tạo ra dữ liệu. Điều này đòi hỏi các phòng thí nghiệm suy nghĩ và vận hành theo cách để đảm bảo các quá trình của chúng được kiểm soát và dữ liệu của chúng đáng tin cậy." Các kết quả cũng được chấp nhận rộng rãi giữa các quốc gia khi các phòng thí nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn.

Được phát triển bởi ISO và IEC trong Ủy ban đánh giá sự phù hợp (CASCO), phiên bản mới của ISO / IEC 17025 sẽ thay thế cho phiên bản năm 2005 và dự kiến ​​công bố vào cuối năm nay.

Nguồn: iso.org

Hành động tác động thế nào đến cảm xúc?

Mùa hè năm 1971, một nhóm các nhà nghiên cứu do giáo sư tâm lý Phillips Zimbardo dẫn đầu đã phân một nhóm các sinh viên đại học thành 2 nhóm ngẫu nhiên, những tù nhân và những cai tù, và sắp xếp họ đóng vai của họ trong một nhà tù giả dưới tầng hầm của Khoa Tâm lý đại học Stanford.

Chỉ trong vài ngày, những cai tù bắt đầu bộc lộ những thái độ uy quyền, độc đoán, cố ý sỉ nhục một số tù nhân. Các tù nhân bắt đầu có những thái độ thụ động, nhiều người rơi vào một trạng thái trầm cảm. Thực nghiệm phải chấm dứt chỉ sau 6 ngày.

Thực nghiệm nhà tù Stanford thường được cho là để minh họa cho sức mạnh của vai trò xã hội trong việc kiến tạo hành vi, nhưng nó cũng mô tả về sức mạnh của hành vi để gây ra những cảm xúc mạnh mẽ thực sự. Những cai tù trong thực nghiệm của Zimbardo không thực sự là những cai tù. Và những tù nhân không phải là những tù nhân thực. Tất cả bọn họ là những tình nguyện viên. Họ là những sinh viên. Nhưng khi họ bắt đầu hành động theo vai, họ bắt đầu cảm nhận theo vai.

Nhiều người giả định rằng mối liên hệ giữa cảm xúc và hành vi là một chiều: Cảm xúc hình thành hành vi. Bạn yêu anh ấy, do đó bạn hôn anh ấy. Bạn ghét anh ta, do đó bạn đánh anh ta. Quan điểm này là không đúng. Trong thực tế, mối quan hệ đó là hai chiều. Thật ra, phần lớn thời gian, hành động hình thành cảm xúc.

Bạn từng tự hỏi tại sao các nam và nữ diễn viên đóng vai người yêu trong một bộ phim thường bắt đầu yêu nhau sau khi kết thúc phim? Chắc chắn là có liên quan đến nhiều quá trình. Cả hai thường trẻ và đẹp. Họ có nhiều điểm chung. Họ ở cạnh nhau rất nhiều. Tất cả điều đó được biết đến như những yếu tố dự báo của việc lựa chọn bạn tình.

Nhưng họ cũng đóng những cảnh yêu nhau. Họ phải hành động như những người quan tâm sâu sắc đến nhau. Họ nhìn vào mắt nhau, họ chạm vào nhau. Họ đóng những hành động yêu thương. Ta không ngạc nhiên khi cảm xúc của tình yêu thường theo sau.

Nhà tâm lý/ triết học William James là một trong những nhà học giả đầu tiên nhận thấy quá trình phản trực giác này. Ông tin là những cảm xúc nảy sinh từ những hành động của cơ thể mà chúng ta đáp ứng lại trước những điều xảy đến trong cuộc sống của chúng ta. Ông giả thuyết rằng, không phải “chúng ta đánh mất gia tài, buồn và khóc; chúng ta gặp một con gấu, sợ hãi và bỏ chạy; chúng ta bị đối thủ xúc phạm và tức giận và đánh nhau.” Trên thực tế, ông lập luận, “trình tự của các chuỗi sự việc này là không đúng…những nhận định trên, hợp lý hơn nên là chúng ta cảm thấy buồn vì chúng ta khóc, tức giận vì chúng ta đánh nhau, sợ hãi vì chúng ta run rẩy.”

James lập luận rằng nếu không có một số phản ứng của cơ thể (khóc, run, đánh đấm), chúng ta sẽ không cảm nhận cảm xúc. “Như vậy chúng ta có thể thấy con gấu và nhận định rằng tốt hơn là nên chạy, bị nhục mạ và cho rằng tung nắm đấm là đúng, nhưng chúng ta không thật sự cảm thấy sợ hãi hay tức giận.” Mặc dầu hơi quá đơn giản, James vẫn chạm vào đúng sự thật của vấn đề. Hành vi có thể tạo nên cảm xúc.

Nghiên cứu gần đây trong tâm lý học lâm sàng cho thấy cách nhanh nhất để thay đổi một cảm xúc là thay đổi hành vi gắn liền với nó. Bản thân quan điểm này không mới. Ví dụ, các nhà lý thuyết hành vi những năm 1970 tin rằng trầm cảm là kết quả gián tiếp của sự không hoạt động: sau nhiều thất bại và những thất vọng, hụt hẫng, con người dừng cố gắng và thu mình khỏi thế giới; tuy nhiên thu mình và không hoạt động lại làm giảm khả năng có những tương tác hoặc những trải nghiệm tích cực, do đó sự cô lập và thụ động tăng lên, cuối cùng dẫn đến trầm cảm.

Con người thích những phần thưởng ngay trước mắt hơn, và thường phản ứng lại với sự không thoải mái bằng cách thu mình và né tránh. Thu mình và né tránh cho chúng ta phần thưởng ngắn hạn bằng cách loại bỏ sự khó chịu, nhưng chúng trừng phạt chúng ta về lâu dài bằng cách ngăn không cho chúng ta học cách làm thế nào đạt được những phần thưởng khác trong môi trường. Phản ứng đúng đắn trước thất bại không phải là đầu hàng và thu mình mà là học cách hành động khéo léo, có kỹ năng và có mục đích hơn để đưa những củng cố tích cực vào trong cuộc sống của bạn. Trị liệu hành vi cho người trầm cảm là tập trung làm cho thân chủ thay đổi những hành vi để trải nghiệm một sự thay đổi trong tâm trạng – một nguyên tắc được gọi là Hoạt hoá hành vi.

Những phương thức chữa trị trầm cảm dựa trên nguyên tắc về hành vi, ở một mức nào đó, đã bị gạt sang một bên vào những năm 1980 vì người ta chú trọng vào các kỹ thuật về phương thức nhận thức, vốn chú trọng đến việc thay đổi “những sai lạc về nhận thức” (những suy nghĩ bi quan, thảm não) và “những cách thức đặc trưng” tiêu cực (thói quen tự trừng phạt bằng cách gán một ý nghĩa nào đó lên các sự kiện). Tuy nhiên, một số nghiên cứu trong những năm 90, cho thấy rằng chỉ một phần của phương pháp Hoạt hoá hành vi cho kết quả ngang với toàn bộ chương trình trị liệu trầm cảm bằng phương pháp nhận thức, và điều này đã làm sống lại mối quan tâm với những ý tưởng trước đó [về hành vi tạo nên cảm xúc – ND].

Mô hình Hoạt hoá hành vi cho rằng trầm cảm có mối liên hệ với những tình huống ngoại cảnh của chủ thể, chứ không đơn thuần là do tính cách nội tâm của người đó. Nói cách khác, các chứng rối loạn là “các sự kiện trong một tình huống đặc biệt”. Do đó, mô hình Hoạt hoá hành vi đại diện cho quan điểm cho rằng các bệnh tâm lý có phụ thuộc vào hoàn cảnh. Thay vì xem xét kỹ lưỡng những khiếm khuyết về yếu tố di truyền và phương thức nhận thức bên trong chủ thể, các chứng rối loạn được xem là sự tương tác giữa các tính cách cá nhân và các điều kiện môi trường.

Nguyên tắc “hành vi thiết lập cảm xúc” được áp dụng ngày nay trong phương pháp trị liệu chứng trầm cảm, thông qua một kỹ thuật gọi là “hoạch định các hoạt động”, theo đó, các thân chủ được yêu cầu đưa trở lại những hoạt động có liên hệ đến cảm giác thành đạt và vui vẻ vào cuộc sống của họ. Phương pháp này không chỉ là những lời đề nghị phổ biến trong quá khứ như “hãy đi dạo” hay “xuống phố chơi”. Các nhà trị liệu hợp tác với các thân chủ để xem xét những hành vi khả dĩ đặc biệt trong cuộc sống của họ, chia các nhiệm vụ ra thành những bước nhỏ và dễ đạt được, và củng cố những hành vi có tính thành đạt trong cuộc sống. Nhà tâm lý học thực hiện tương tự như cách một nhà trị liệu vật lý chia nhỏ một chuyển động thành những những cử động nhỏ hơn có thể được tập luyện một cách dễ dàng để rèn luyện sức lực và sự dẻo dai.

Trở nên năng động trong cuộc sống có thể dẫn đến những thay đổi trong tâm trạng thông qua nhiều con đường. Hoạt động thể chất dẫn đến cảm giác về sự khoẻ mạnh bằng cách phóng thích những hóc môn giảm đau, không kể đến việc tăng sức mạnh cơ bắp và năng suất của tim, cải thiện ngoại hình, v.v. Cơ thể của chúng ta được xây dựng cho chuyển động, và chúng cảm thấy tốt khi chuyển động.

Trở nên năng động trong cuộc sống cũng giúp bạn gần gũi với mọi người hơn. Chúng ta là những động vật có tính xã hội, và các tương tác xã hội có tác động tích cực lên trạng thái tinh thần của chúng ta. Tác nhân dự đoán tốt nhất duy nhất về sự hạnh phúc của con người chính là các mối quan hệ xã hội. Hơn nữa, hoạt động thường góp phần tạo nên luyện tập, và luyện tập giúp cải thiện các kỹ năng, và dẫn đến cải thiện khả năng của chúng ta có được những phần thưởng trong môi trường sống.

Thông điệp chủ đạo trên không chỉ hữu ích đối với người đang trầm cảm mà còn đối với bất kỳ ai quan tâm đến việc giữ gìn tinh thần khoẻ mạnh. Cách ngắn nhất, đáng tin nhất để thay đổi cách bạn cảm nhận đó là thay đổi những việc bạn làm. Khi bạn cảm thấy tồi tệ, đừng chờ đợi cảm thấy hạnh phúc để làm những việc bạn thích. Hãy bắt đầu làm những việc bạn thích. Những cảm xúc tốt đẹp có thể sẽ theo sau.

Nguồn: tamlyhoctoipham.com